WB: Nên khuyến khích các doanh nghiệp xuất khẩu tìm kiếm thị trường mới

16:28 | 11/03/2022

Trong báo cáo cập nhật kinh tế vĩ mô Việt Nam tháng 3/2022, Ngân hàng Thế giới (WB) nhấn mạnh khởi đầu năm 2022, nền kinh tế Việt Nam có nhiều tín hiệu tích cực như chỉ số sản xuất công nghiệp tiếp tục tăng, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tiếp tục phục hồi. Kết quả thu ngân sách tốt, chi ngân sách tăng nhờ cải thiện tiến độ giải ngân vốn đầu tư công. 

wb nen khuyen khich cac doanh nghiep xuat khau tim kiem thi truong moi
  Khởi đầu năm 2022, nền kinh tế Việt Nam có nhiều tín hiệu tích cực.

Lạm phát được kiềm chế

Báo cáo nhận định chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tăng 1,4% (so với cùng kỳ năm trước), mức tăng thấp nhất kể từ tháng 4/2021. Giá xăng dầu tăng 5,8% so với tháng trước và 47,1% so với cùng kỳ năm trước, tiếp tục góp phần làm tăng chi phí giao thông và do đó làm tăng giá tiêu dùng.

Ngược lại, giá lương thực, thực phẩm tương đối ổn định so với một năm trước nhờ chuỗi cung ứng trong nước được duy trì tốt. Lạm phát cơ bản, không bao gồm lương thực, thực phẩm, năng lượng và các mặt hàng do Nhà nước quản lý giá, chỉ tăng 0,7% (so với cùng kỳ năm trước), tương đương tỷ lệ ghi nhận trong hai tháng trước đó, phản ánh nhu cầu trong nước phục hồi yếu.

Theo WB, các hoạt động kinh tế trong nước tiếp tục đà phục hồi. Tốc độ tăng trưởng chỉ số sản xuất công nghiệp tăng lên 8,5% (so với cùng kỳ năm trước) từ 2,8% (so với cùng kỳ năm trước) trong tháng Một, cho thấy sự cải thiện chung trong hoạt động công nghiệp chế biến, chế tạo. Đặc biệt, sau khi giảm vào tháng Một, sản xuất máy tính, điện tử và sản phẩm quang học đã phục hồi trở lại, tăng 9,1% (so với cùng kỳ năm trước). Sản xuất trang phục duy trì kết quả tốt với mức tăng trưởng 24,7% (so với cùng kỳ năm trước).

Chỉ số PMI ngành công nghiệp chế biến, chế tạo bật tăng từ 53,7 trong tháng Một lên 54,3 vào tháng Hai, mức cao nhất trong 10 tháng gần đây, cho thấy điều kiện kinh doanh trong nước tiếp tục được cải thiện.

Bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng phục hồi

Báo cáo từ WB cho thấy, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tiếp tục phục hồi và ước tăng 3,1% (so với cùng kỳ năm trước) trong tháng Hai, cao hơn tốc độ tăng trưởng của tháng trước. Doanh thu dịch vụ tiêu dùng tiếp tục phục hồi, tăng 5,9% (so với cùng kỳ năm trước), lần tăng đầu tiên kể từ tháng 5/2021, nhờ doanh thu dịch vụ lưu trú và ăn uống tăng trưởng mạnh (12,6% so với cùng kỳ năm trước). Doanh thu bán lẻ hàng hóa tăng 2,4% (so với cùng kỳ năm trước).

Xuất khẩu và nhập khẩu hàng hóa tăng trưởng lần lượt 15,5% và 22,3% (so với cùng kỳ năm trước), cao hơn tốc độ tăng trưởng trong tháng Một. Do nhập khẩu tăng nhanh hơn nhiều so với xuất khẩu, cán cân thương mại xấu đi, chuyển từ thặng dư 1,4 tỷ USD trong tháng Một sang thâm hụt 2 tỷ USD trong tháng Hai.

Tuy nhiên, tốc độ tăng trưởng xuất khẩu cao hơn nhờ xuất khẩu điện thoại, máy tính và điện tử và máy móc tăng 6,2% (so với cùng kỳ năm trước) trong tháng Hai, so với mức giảm 8,6% trong tháng Một. Xuất khẩu dệt may vẫn được duy trì mạnh mẽ, tăng trưởng 25,8%. Tăng nhập khẩu một phần phản ánh tăng trưởng nhanh hơn của nhập khẩu linh kiện điện thoại, máy tính và điện tử, với tốc độ bật tăng từ 14,9% (so với cùng kỳ năm trước) trong tháng Một lên 32,3% (so với cùng kỳ năm trước) trong tháng Hai.

wb nen khuyen khich cac doanh nghiep xuat khau tim kiem thi truong moi
WB cho rằng, các doanh nghiêp xuất khẩu cần tìm kiếm thị trường mới

Trong tháng Hai, Việt Nam đã thu hút 2,9 tỷ USD vốn trực tiếp đầu tư nước ngoài (FDI) đăng ký, thấp hơn 15,9% so với một năm trước. Hầu hết vốn đăng ký đến từ các doanh nghiệp đang hoạt động có kế hoạch mở rộng cơ sở sản xuất. Vốn giải ngân của các dự án FDI đã được phê duyệt tăng 7,9% (so với cùng kỳ 2021) trong tháng 2, tháng tăng trưởng thứ ba liên tiếp.

Dư nợ tín dụng đối với nền kinh tế tăng 15,7% (so với cùng kỳ năm trước) trong tháng Hai, giảm nhẹ so với 16,3% (so với cùng kỳ năm trước) trong tháng Một. Tuy nhiên, tốc độ tăng trưởng này cao hơn so với năm 2021, cho thấy nhu cầu tín dụng vẫn ở mức cao. Do đó, lãi suất qua đêm trên thị trường liên ngân hàng được duy trì ở mức 2,56% tại thời điểm cuối tháng Hai, so với mức 2,42% cuối tháng Một và tăng 1,8 điểm phần trăm so với cuối tháng 12/2021.

Ngoài ra, cân đối ngân sách thặng dư 1,1 tỷ USD trong tháng Hai do kết quả thu ngân sách tốt. Chi ngân sách tăng nhờ cải thiện tiến độ giải ngân vốn đầu tư công.

Kho bạc Nhà nước đã phát hành 412 triệu USD trái phiếu chính phủ bằng nội tệ trong tháng Hai, nâng tổng giá trị trái phiếu phát hành lên 1,4 tỷ USD trong 2 tháng đầu năm, tương đương 8,1% kế hoạch. Tất cả trái phiếu đã phát hành đều có kỳ hạn dài (ít nhất 10 năm). Thanh khoản dồi dào tiếp tục giữ chi phí huy động vốn ở mức thấp, với lợi suất trái phiếu kho bạc kỳ hạn 10 năm trên thị trường sơ cấp ổn định ở mức 2,12% vào cuối tháng Hai.

Cần theo dõi diễn biến giá trong nước

Khi số ca nhiễm COVID-19 mới gia tăng, tiếp tục tiêm liều vắc-xin tăng cường và ban hành hướng dẫn y tế đóng vai trò rất quan trọng. Xung đột Nga - Ukraine đã làm gia tăng tính bất định về sự phục hồi kinh tế toàn cầu, gây ra những căng thẳng mới đối với chuỗi cung ứng toàn cầu và tăng áp lực lạm phát. Cơ quan chức năng nên khuyến khích các nhà xuất khẩu tìm kiếm thị trường mới và đổi mới sáng tạo sang những sản phẩm mới thông qua các chuỗi giá trị toàn cầu (GVC) và hiệp định thương mại tự do (FTA) hiện có để nâng cao khả năng chống chịu của xuất khẩu. Giá cả hàng hóa thế giới đã tăng mạnh và còn có thể tiếp tục tăng trong ngắn hạn.

'Cần theo dõi chặt chẽ diễn biến giá trong nước, để có các giải pháp điều hành linh hoạt, phù hợp. Tuy nhiên, giảm thuế bảo vệ môi trường chưa hẳn là chính sách tối ưu để hạ nhiệt giá xăng dầu' – WB khuyến nghị.

Hà An

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,00
3,00
3,30
4,00
4,00
5,50
5,30
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,40
3,50
3,70
5,20
5,40
5,70
6,00
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,10
3,20
3,40
4,50
4,60
5,10
5,80
Sacombank
0,03
-
-
-
3,30
3,50
3,70
4,70
4,70
5,80
6,20
Techcombank
0,03
-
-
-
2,75
2,75
3,25
4,55
4,55
5,45
5,55
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,50
5,50
DongA Bank
0,20
0,20
0,20
0,20
3,70
3,70
3,70
5,60
5,70
6,20
6,50
Agribank
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,50
5,50
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.080 23.390 26.488 27.866 31.023 32.318 204.16 214.87
BIDV 23.110 23.390 26.575 27.683 31.139 32.402 203.99 213.29
VietinBank 23.091 23.391 26.607 27.727 31.399 32.409 204.47 213.47
Agribank 23.090 23.380 26.787 27.493 31.334 32.117 205.87 211.70
Eximbank 23.140 23.350 26.871 27.398 31.480 32.096 206.75 210.81
ACB 23.130 23.350 26.814 27.429 31.401 31.993 206.11 211.05
Sacombank 23.105 23.625 26.953 27.513 31.568 32.084 206.29 212.66
Techcombank 23.109 23.400 26.643 27.863 31.118 32.281 205.24 214.28
LienVietPostBank 23.115 23.390 26.875 27.928 31.504 31.988 207.19 213.97
DongA Bank 23.160 23.430 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
67.950
68.670
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
67.950
68.650
Vàng SJC 5c
67.950
68.670
Vàng nhẫn 9999
53.750
54.700
Vàng nữ trang 9999
53.600
54.300