WB: Tăng trưởng kinh tế toàn cầu có thể ở mức 4%

11:12 | 08/01/2021

Hợp tác toàn cầu là rất quan trọng trong việc giải quyết nhiều thách thức hiện nay. Đặc biệt, toàn cầu cần phải hành động nhanh chóng và mạnh mẽ để đảm bảo làn sóng nợ đang diễn ra không kết thúc bằng một chuỗi khủng hoảng nợ trong các nền kinh tế đang phát triển và thị trường mới nổi (EMDEs), như trường hợp của những làn sóng tích lũy nợ trước đó. Đây là khuyến nghị được đưa ra trong báo cáo “Triển vọng kinh tế toàn cầu” vừa công bố của WB.

Phục hồi không mạnh

Sự phục hồi toàn cầu, dù phần nào đã bị chậm lại trong thời gian gần do sự bùng phát trở lại của các ca nhiễm Covid-19 mới, nhưng dự kiến sẽ tăng trở lại trong năm 2021 do niềm tin, tiêu dùng và thương mại dần được cải thiện khi được hỗ trợ bởi việc tiêm chủng đang diễn ra. Theo kịch bản cơ sở trong báo cáo này của WB, sau suy giảm mạnh vào năm ngoái do đại dịch Covid-19 (WB dự báo GDP toàn cầu giảm 4,3% năm 2020), tốc độ tăng trưởng kinh tế toàn cầu dự kiến ở mức 4% trong năm nay (điều chỉnh giảm 0,2% so với dự báo đưa ra vào tháng 6/2020) và ở 3,8% vào năm 2022, do vẫn bị tác động nặng bởi những thiệt hại lâu dài của Covid-19 đến tăng trưởng tiềm năng.

Đặc biệt, tác động của đại dịch đối với vốn đầu tư và nguồn nhân lực sẽ làm xói mòn triển vọng tăng trưởng ở các EMDEs và khiến nhiều mục tiêu phát triển bị chậm lại. Mặc dù tăng trưởng của EMDEs được dự báo sẽ ổn định ở mức trung bình 4,6% trong giai đoạn 2021-22, nhưng sự cải thiện phần lớn nhờ khả năng phục hồi tốt hơn của Trung Quốc. Nếu loại trừ Trung Quốc, phục hồi của các EMDEs sẽ ở mức khiêm tốn hơn, ở mức khoảng 3,5% trong giai đoạn 2021-22 do ảnh hưởng kéo dài của đại dịch tiếp tục đè nặng lên tiêu dùng và đầu tư. Ngay cả khi có được sự phục hồi như vậy, GDP của EMDEs vào năm 2022 dự kiến vẫn thấp hơn khoảng 6% so với dự báo đưa ra trước đại dịch.

wb tang truong kinh te toan cau co the o muc 4
Dự báo triển vọng kinh tế toàn cầu tháng 1/2021 của WB

Tiếp cận theo khu vực, báo cáo cho rằng mặc tất cả các khu vực đều được dự báo sẽ tăng trưởng tích cực trong năm nay so với nền tăng trưởng thấp của năm 2020 nhưng tốc độ phục hồi sẽ khác nhau đáng kể giữa các khu vực, với sự phục hồi sẽ yếu hơn ở các quốc gia có dịch bùng phát mạnh hoặc dựa quá nhiều vào du lịch và xuất khẩu hàng hóa. Trong đó, khu vực Đông Á và Thái Bình Dương mới nổi được dự báo sẽ hồi phục tốt trong năm nay nhờ sự phục hồi mạnh mẽ của Trung Quốc. Tăng trưởng của khu vực này trong năm nay được dự báo ở mức 7,4% (tăng 0,8% so với dự báo tháng 6/2020 của WB), nhờ mức tăng trưởng dự báo lên tới 7,9% của Trung Quốc (tăng 1% so với lần dự báo trước). Nếu loại trừ Trung Quốc, mức tăng trưởng trên sẽ giảm xuống chỉ còn 4,9% (giảm 0,5% so với dự báo tháng 6/2020).

Ở chiều ngược lại, WB dự báo tăng trưởng ở Trung Đông và các khu vực Bắc Phi và cận Sahara sẽ ở các mức yếu nhất. Khu vực Trung Đông và Bắc Phi ước tính GDP suy giảm 5% trong năm 2020 và chỉ tăng 2,1% năm 2021. Khu vực cận Sahara tăng trưởng ước tính giảm 3,7% năm 2020 và phục hồi ở mức 2,3% trong năm nay.

Rủi ro và khuyến nghị

Bên cạnh những rủi ro cụ thể mà WB chỉ ra theo từng khu vực, báo cáo này đánh giá về các rủi ro chung mà tất cả các khu vực đang phải đối mặt và coi đây là những rủi ro có thể khiến các kịch bản cơ sở đưa ra ở trên không đạt được. Trong đó, các rủi ro chính bao gồm nguy cơ gia tăng sự lây lan của virus, sự chậm trễ trong việc mua sắm và phân phối vắc-xin và những căng thẳng tài chính có thể phát sinh do mức nợ cao và tăng trưởng yếu kéo dài hơn dự kiến.

Báo cáo này cũng tập trung phân tích về tác động của đại dịch đối với triển vọng tăng trưởng dài hạn, cũng như về lợi ích và rủi ro của các biện pháp chính sách tài khóa và tiền tệ phi truyền thống được đưa ra gần đây của các EMDEs để đối phó với Covid-19. WB cho rằng cũng như các cuộc khủng hoảng kinh tế trước đây, đại dịch này nhiều khả năng sẽ để lại những tác động tiêu cực lâu dài đến hoạt động kinh tế toàn cầu và thu nhập bình quân đầu người, làm giảm tốc độ tăng trưởng kinh tế tiềm năng.

WB khuyến nghị, hợp tác toàn cầu chính là chìa khóa để giải quyết các thách thức nêu trên. Trong đó, nỗ lực hạn chế sự lây lan của dịch bệnh, cung cấp các hỗ trợ cho các nhóm đối tượng dễ bị tổn thương và vượt qua những thách thức liên quan đến vắc-xin là những ưu tiên chính sách quan trọng trước mắt. Tiếp đó khi cuộc khủng hoảng vì Covid-19 hiện nay đã dịu đi, các nhà hoạch định chính sách cần cân bằng rủi ro từ gánh nặng nợ lớn - và ngày càng tăng - với rủi ro từ việc nền kinh tế chậm lại thông qua thắt chặt tài khóa sớm. Ngoài ra, để đối mặt với những di sản tiêu cực của đại dịch, điều quan trọng là phải thúc đẩy khả năng phục hồi resilience bằng cách tăng cường đầu tư cho y tế, giáo dục, ưu tiên đầu tư cho công nghệ số và cơ sở hạ tầng xanh, cải thiện quản trị và tăng cường minh bạch nợ.

“Với tình hình tài khóa yếu đi và nợ tăng cao, cải cách thể chế để thúc đẩy tăng trưởng là đặc biệt quan trọng. Cần có một nỗ lực chính sách toàn diện để thúc đẩy tăng trưởng mạnh mẽ, bền vững và công bằng”, báo cáo nêu. Theo đó, một gói cải cách nhằm tăng cường đầu tư vào nguồn nhân lực và cơ sở hạ tầng, tăng cường sự tham gia của lực lượng lao động là rất cần thiết để có thể giúp ngăn chặn các tác động của đại dịch đối với tăng trưởng tiềm năng trong các EMDEs trong thập kỷ tới.

Box: Nhận định Việt Nam đã đối phó rất tốt với đại dịch Covid-19 với chi phí thấp, trong khi xuất khẩu giữ được nhịp tăng trưởng và dòng vốn FDI vào tiếp tục bền bỉ, WB dự báo tăng trưởng kinh tế Việt Nam sẽ đạt mức 6,7% trong năm nay (giảm 0,1% so với dự báo tháng 6/2020) và 6,5% vào năm 2022.

Hồng Quân

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,00
3,00
3,30
3,90
3,90
5,60
5,40
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,50
3,50
3,50
5,60
5,80
7,20
8,40
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,00
3,10
3,30
4,40
5,00
6,20
6,20
Sacombank
-
-
-
-
3,30
3,40
3,50
5,00
5,10
5,70
6,00
Techcombank
0,03
-
-
-
2,65
2,75
2,85
4,20
4,20
4,40
4,90
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,70
3,70
3,80
4,60
4,80
6,20
6,20
DongA Bank
-
0,20
0,20
0,20
3,60
3,60
3,60
5,50
5,70
6,00
6,30
Agribank
0,10
-
-
-
3,60
3,60
3,60
5,50
5,70
6,00
6,30
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 22.955 23.165 27.591 28.506 30.510 31.785 215,75 226,99
BIDV 22.975 23.175 27.760 28.872 30.667 31.563 217,28 226,03
VietinBank 22.934 23.177 27.852 28.957 30.988 31.998 217,30 226,30
Agribank 22.970 23.165 27.785 28.479 30.918 31.669 219,50 225,66
Eximbank 22.970 23.160 27.939 28.461 30.994 31.573 220,96 225,08
ACB 22.980 23.160 27.958 28.460 31.172 31.604 220,83 225,02
Sacombank 22.977 23.189 28.038 28.593 31.150 31.655 220,76 227,12
Techcombank 22.946 23.171 27.717 28.940 30.710 31.855 219,56 228,84
LienVietPostBank 22.970 23.150 27.067 27.571 30.322 31.186 214,74 218,67
DongA Bank 22.990 23.150 27.930 28.430 31.030 31.580 217,40 224,40
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
55.950
56.520
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
55.950
56.500
Vàng SJC 5c
55.950
56.520
Vàng nhẫn 9999
54.800
55.350
Vàng nữ trang 9999
54.450
55.150