Xây dựng chuẩn mực con người Việt Nam không chỉ nằm trên khẩu hiệu
| Đề xuất việc dạy kiến thức văn hóa trong chương trình đào tạo ngành, nghề đặc thù Gia đình - Nơi ngọn lửa không bao giờ tắt... Công nghiệp văn hóa đưa nguồn lực thành sức mạnh mềm quốc gia |
![]() |
| Ảnh minh họa |
Khoảng cách từ “điều đúng” đến “việc làm đúng”
Những tấm bảng quy tắc ứng xử tại công sở, trường học, di tích, khu dân cư hay nơi công cộng đã trở nên quen thuộc. Đó có thể là những lời nhắc về giữ gìn vệ sinh, xếp hàng, nói năng lịch sự, tôn trọng cộng đồng, bảo vệ môi trường...
Nhưng từ nhận thức một điều là đúng đến biến điều đó thành thói quen ứng xử vẫn còn một khoảng cách. Không khó để bắt gặp những tình huống trái ngược: rác xuất hiện gần biển cấm xả rác, người tham gia lễ hội chen lấn, người tham gia giao thông không nhường đường hay những cuộc tranh luận trên mạng xã hội nhanh chóng chuyển thành công kích cá nhân.
Điều đó cho thấy xây dựng hệ giá trị không thể hoàn thành chỉ bằng một văn bản, một cuộc vận động hay một đợt tuyên truyền. Giá trị chỉ thực sự có ý nghĩa khi được chuyển hóa thành cách ứng xử thường xuyên của mỗi người.
Ngày 2/7/2026, Phó Thủ tướng Phạm Thị Thanh Trà ký Quyết định 1189/QĐ-TTg ban hành Kế hoạch triển khai đồng bộ hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình, chuẩn mực con người Việt Nam.
Theo Kế hoạch, hệ giá trị quốc gia gồm: hòa bình, thống nhất, độc lập, dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, hạnh phúc. Hệ giá trị văn hóa gồm: dân tộc, dân chủ, nhân văn, khoa học. Hệ giá trị gia đình gồm: ấm no, hạnh phúc, tiến bộ, văn minh. Trong khi đó, chuẩn mực con người Việt Nam được xác định gồm: yêu nước, đoàn kết, tự cường, nghĩa tình, trung thực, trách nhiệm, kỷ cương, sáng tạo; đồng thời nhấn mạnh khát vọng vươn lên và tinh thần cống hiến.
Đây là một khung giá trị rộng. Bài toán đặt ra là làm thế nào “dịch” những khái niệm mang tính định hướng ấy thành hành vi mà mỗi người có thể thực hiện trong từng môi trường cụ thể.
![]() |
| Nguồn: Tạp chí Cộng sản |
Nói về “trung thực”, “trách nhiệm” hay “văn minh” không khó. Khó hơn là trả lời một người phải làm gì để thể hiện những giá trị đó.
Trong gia đình, trách nhiệm không chỉ là bảo đảm điều kiện vật chất mà còn có thể thể hiện ở việc cùng chia sẻ công việc, dành thời gian cho con cái, chăm sóc người cao tuổi, lắng nghe và không sử dụng bạo lực để giải quyết bất đồng.
Tại công sở, trách nhiệm có thể bắt đầu từ đúng giờ, giữ lời hứa, không đùn đẩy công việc. Với cán bộ thực thi công vụ, giá trị ấy còn được phản ánh qua thái độ phục vụ, tính minh bạch và việc không gây phiền hà cho người dân, doanh nghiệp.
Ở nơi công cộng, “văn minh” đôi khi đơn giản là xếp hàng, không xả rác, không gây tiếng ồn quá mức, không chiếm dụng không gian chung và tôn trọng quyền của những người xung quanh.
Những ví dụ trên là cách cụ thể hóa các giá trị vào đời sống, thay vì coi đó là những khái niệm chỉ tồn tại trên văn bản.
Trên thực tế, cách tiếp cận này đã xuất hiện trong chính sách về xây dựng văn hóa gia đình. Bộ tiêu chí ứng xử trong gia đình được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch ban hành tại Quyết định 224/QĐ-BVHTTDL ngày 28/1/2022 xác định tiêu chí ứng xử chung là tôn trọng, bình đẳng, yêu thương, chia sẻ.
Từ nguyên tắc chung, Bộ tiêu chí tiếp tục cụ thể hóa quan hệ giữa các thành viên: vợ chồng “chung thủy, nghĩa tình”; cha mẹ với con, ông bà với cháu “gương mẫu, yêu thương”; con với cha mẹ, cháu với ông bà “hiếu thảo, lễ phép”; anh, chị, em “hòa thuận, chia sẻ”.
Nhưng có tiêu chí chưa đồng nghĩa hành vi tự động thay đổi. Nếu việc thực hiện chủ yếu được phản ánh qua đăng ký, báo cáo hay số lượng người tham gia phong trào thì phần quan trọng nhất - sự chuyển biến trong ứng xử - có nguy cơ khó được nhận diện đầy đủ.
Không gian mạng càng làm vấn đề này trở nên rõ nét.
Một người có thể ứng xử lịch sự khi gặp trực tiếp nhưng lại dễ dàng sử dụng ngôn từ xúc phạm khi đứng sau màn hình. Trong môi trường số, trung thực có thể bắt đầu từ kiểm chứng thông tin trước khi chia sẻ; trách nhiệm là cân nhắc tác động của mỗi bài đăng, bình luận; còn kỷ cương là ý thức rằng không gian mạng không nằm ngoài các chuẩn mực và quy định của pháp luật.
Nếu một chuẩn mực chỉ được tuân thủ khi có người giám sát, rất khó nói nó đã trở thành giá trị tự thân. Cách mỗi người lựa chọn hành xử ngay cả khi không có người nhắc nhở mới cho thấy giá trị đã thấm sâu đến mức nào.
![]() |
| Xếp hàng là một biểu hiện của sự văn hóa, văn minh - Ảnh minh họa |
Đo sự thay đổi, không đếm phong trào
Một điểm đáng chú ý của Quyết định 1189/QĐ-TTg là yêu cầu cụ thể hóa các hệ giá trị thành chuẩn mực, quy tắc ứng xử văn hóa và phẩm chất phù hợp với từng lĩnh vực, ngành nghề và nhóm đối tượng.
Kế hoạch đồng thời đặt ra nhiệm vụ nghiên cứu xây dựng bộ tiêu chí khung phục vụ theo dõi, đánh giá; xây dựng cơ sở dữ liệu về các hệ giá trị, thu thập dữ liệu khảo sát xã hội học và từng bước ứng dụng công nghệ phục vụ theo dõi quá trình triển khai.
Cách tiếp cận này mở ra khả năng chuyển trọng tâm từ “đã triển khai bao nhiêu hoạt động” sang “hoạt động đó tạo ra thay đổi gì”.
Một địa phương khó có thể được xem là xây dựng tốt nếp sống văn minh chỉ bởi đã treo đủ bảng quy tắc ứng xử hay tổ chức nhiều buổi tuyên truyền. Kết quả cuối cùng phải thể hiện qua môi trường sống, thái độ ứng xử nơi công cộng, chất lượng phục vụ người dân và mức độ tôn trọng các quy tắc chung.
Tương tự, một cơ quan có thể tổ chức nhiều hoạt động về văn hóa công sở, nhưng thước đo có ý nghĩa hơn vẫn là người dân mất bao lâu để hoàn thành thủ tục, cán bộ có đúng hẹn hay không, phản ánh của người dân có được xử lý và tình trạng gây phiền hà có giảm hay không.
Tuy nhiên, đo lường giá trị văn hóa cũng không thể thực hiện một cách cơ học.
Nếu tiêu chí quá chung, kết quả dễ dừng lại ở những con số báo cáo đẹp nhưng khó phản ánh thực chất. Ngược lại, nếu tiêu chí quá chi tiết, việc xây dựng văn hóa có thể bị hành chính hóa, khiến con người thực hiện chuẩn mực chỉ để hoàn thành một bảng chấm điểm.
Vì vậy, bên cạnh những chỉ tiêu có thể lượng hóa, việc đánh giá cần dựa vào khảo sát xã hội học, phản hồi của người dân và những thay đổi có thể quan sát trong đời sống.
Quan trọng hơn, mỗi giá trị cần được “dịch” sang ngôn ngữ phù hợp với từng nhóm.
Với học sinh, trung thực có thể bắt đầu từ không gian lận trong thi cử, tôn trọng bạn bè. Với cán bộ, trách nhiệm thể hiện qua đúng hẹn, minh bạch, không sách nhiễu. Với người làm du lịch, văn minh có thể được nhìn thấy từ việc không chèo kéo, không “chặt chém”, tôn trọng du khách và văn hóa bản địa.
Đây không phải những tiêu chí được Quyết định 1189/QĐ-TTg quy định nguyên văn, mà là những ví dụ cho thấy các giá trị chung chỉ thực sự đi vào cuộc sống khi được cụ thể hóa phù hợp với từng môi trường.
Cách truyền thông vì thế cũng cần dịch chuyển từ “kêu gọi” sang “trải nghiệm”.
Thay vì chỉ yêu cầu người dân ghi nhớ những khái niệm lớn, có thể tạo ra những hoạt động khiến họ trực tiếp tham gia giải quyết vấn đề của cộng đồng: học sinh xử lý các tình huống ứng xử trong trường học; người dân tham gia quản lý không gian chung; cán bộ được đánh giá qua trải nghiệm thực tế của người sử dụng dịch vụ công...
Khi đó, mỗi giá trị không còn là một khái niệm đứng riêng trên tấm pano mà gắn với lựa chọn hàng ngày của mỗi cá nhân.
Xây dựng hệ giá trị vì thế không phải một chiến dịch có điểm bắt đầu và kết thúc. Đó là quá trình được vun đắp từ cách người lớn ứng xử trước trẻ nhỏ, cách giáo viên đối xử với học sinh, cách cán bộ giải quyết công việc của người dân, cách doanh nghiệp thực hiện cam kết với khách hàng và cách mỗi cá nhân ứng xử với người khác, kể cả trên không gian mạng.
Quyết định 1189/QĐ-TTg đã tạo ra một khung chính sách quan trọng cho quá trình này. Nhưng để những giá trị như trung thực, nghĩa tình, trách nhiệm, kỷ cương hay sáng tạo thực sự bước ra khỏi những khẩu hiệu trên tường, mỗi giá trị cuối cùng vẫn phải được chuyển thành hành vi cụ thể, gắn với chủ thể thực hiện và có cách nhận diện sự thay đổi.
Khi việc xếp hàng không còn cần người nhắc, giữ vệ sinh không phải vì sợ bị phạt, cán bộ phục vụ tốt không phải để hoàn thành một phong trào và mỗi người cân nhắc trách nhiệm trước khi chia sẻ một thông tin trên mạng, lúc đó những giá trị chung mới dần trở thành thói quen.
Và khi đã trở thành thói quen, hệ giá trị không chỉ là điều người Việt Nam muốn nói về mình, mà được nhận diện qua chính cách người Việt sống, làm việc và đối xử với nhau mỗi ngày.
Tin liên quan
Tin khác
Dấu ấn bia Việt trên bản đồ ẩm thực thế giới
Xét tuyển đại học 2027, bỏ cộng điểm chứng chỉ quốc tế, giải học sinh giỏi?
Từ chỉ thị đến hành động: Tuổi trẻ học tập và thực hành theo Bác (Kỳ 3)
Từ chỉ thị đến hành động: Tuổi trẻ học tập và thực hành theo Bác (Kỳ 2)
Từ chỉ thị đến hành động: Tuổi trẻ học tập và thực hành theo Bác (Kỳ 1)
Tăng cường bảo đảm an toàn, chất lượng bữa ăn nội trú, bán trú trong các cơ sở giáo dục
MB trao tặng hơn 600 vé xem bóng đá cho Trường THCS Giảng Võ
Văn hóa trà - đối thoại hữu nghị, hòa bình, hợp tác và phát triển bền vững
LG đưa công nghệ đến gần hơn với hơn 1.000 học sinh Đồng Nai





