09:43 | 18/01/2016

Bất cập phát triển vùng cao su

Những năm gần đây, thị trường cao su tự nhiên bị bão hòa. Điều này, dẫn đến giá cao su tự nhiên liên tục rớt giá một cách thê thảm. Từ trên 100 triệu đồng/tấn vào năm 2011, nay chỉ còn trên dưới 40 triệu đồng/tấn; thậm chí hiện nay giá mủ cao su xuất khẩu rớt xuống ngấp nghé 30 triệu đồng/tấn.

Cung vượt cầu

Các chuyên gia lý giải, nguyên nhân rớt giá của mặt hàng này là do lượng dự trữ của Trung Quốc (nhà nhập khẩu số một thế giới về mủ cao su tự nhiên) quá nhiều, đã đến lúc phải ngưng nhập để chế biến từ nguồn nguyên liệu dự trữ. Đồng thời, tác động của việc kinh tế Trung Quốc liên tục lao dốc, dẫn đến sản xuất bị đình trệ, giảm lượng nhập khẩu.

Còn theo nhóm nghiên cứu cao su quốc tế (IRSG), thì nguồn cung cao su tự nhiên hiện khá dư giả. IRSG ước tính tiêu thụ cao su tự nhiên toàn cầu năm 2016 khoảng 12,75 triệu tấn, trong khi nguồn cung lên đến 12,83 triệu tấn.

Nhiều diện tích cao su đang cho khai thác bị chặt bỏ chuyển sang trồng cây khác

Các chuyên gia khẳng định, các yếu tố trên là “lực đẩy” khiến thị trường cao su tự nhiên trên thế giới biến động giảm cực sâu trong thời gian qua.

Trước thực trạng, giá mủ cao su bị sụt giảm, chi phí không đủ công cạo mủ, nhiều nông hộ ở khu vực Tây Nguyên chặt bỏ cây cao su để chuyển hướng sang trồng các loại cây khác, còn các DN hạn chế khai thác và chăm sóc, cắt giảm lao động để tồn tại hoặc chặt bỏ bớt một phần diện tích để tái canh hoặc trồng loại cây khác.

Thực tế tại khu vực Tây Nguyên cho thấy, mặc dù cây cao su đang ở độ tuổi khai thác mủ, nhưng tại nhiều nơi trong tỉnh Đăk Nông, người dân dường như chẳng còn mặn mà với việc thu hoạch mà chặt bỏ không thương tiếc để lấy đất trồng tiêu. Thực trạng này diễn ra từ hai năm nay và tại nhiều nơi trên địa bàn tỉnh Đăk Nông như xã Nhân Đạo, huyện Đăk R’Lấp; xã Đăk R’Moan, thị xã Gia Nghĩa…

Chỉ trong thời gian ngắn, diện tích cao su bị người dân phá bỏ đã lên đến hàng trăm hecta. Trong đó, có hàng chục hecta cao su được người dân giữ lại theo phương thức chắn rễ, rong tỉa, hãm ngọn cây để làm trụ sống trồng hồ tiêu. Tình hình tương tự cũng diễn ra tại các tỉnh Tây Nguyên khác và cả khu vực Đông Nam bộ.

Bất chấp rủi ro

Trong khi, tại Tây Nguyên người dân sẵn sàng triệt hạ cây cao su đang ở tuổi khai thác để thay thế cây trồng khác, thì một nghịch lý lại đang diễn ra ở miền Trung là chính quyền các địa phương đã đưa cây cao su vào chiến lược quy hoạch phát triển kinh tế.

Theo các chuyên gia phân tích, điều nghịch lý ở chỗ, trồng cây cao su tại khu vực miền Trung sẽ chịu nhiều rủi ro. Bởi khả năng thích ứng của loại cây này rất kém, nếu gió cấp 8 - 9 sẽ gây gãy cành, cấp 10 - 11 sẽ gãy thân, đổ cây. Trong khi, miền Trung là rốn bão, chịu nhiều kiểu khí hậu khắc nghiệt nên dễ dẫn đến rủi ro cho người nông dân.

Do đó, đây là vùng được các chuyên gia đánh giá, kể cả cảnh báo là không phù hợp để phát triển cây cao su. Thực tế này đã chứng minh, sau 2 cơn bão số 10 và 11 trong năm 2013, đã có 215.000 cây cao su bị tàn phá, trong đó 13.000ha diện tích cây cao su bị mất trắng ở các tỉnh Quảng Trị, Quảng Bình và Hà Tĩnh. Song bất chấp mọi rủi ro, các địa phương vẫn “vô tư” lập vùng, lập dự án phát triển cây cao su.

Đơn cử, UBND tỉnh Quảng Nam vừa phê duyệt vùng quy hoạch phát triển cây cao su đến năm 2020, với tổng diện tích lên đến trên 30.428ha. Theo đó, tăng diện tích 893ha cây cao su tại huyện Phước Sơn. Đồng thời, địa phương này bổ sung nhiệm vụ phát triển cao su trên địa bàn từ 29.534,74ha lên 30.428,17ha trong giai đoạn 2011-2020.

Chỉ tính riêng tại huyện Nam Giang (Quảng Nam), những năm gần đây, địa phương này đã trồng được 766ha cao su đại điền và 17ha cao su tiểu điền, nâng tổng số diện tích cây cao su trên địa bàn lên gần 1.400ha. Huyện Nông Sơn cũng đã trồng gần 1.000ha cao su theo phương thức đại điền và tiểu điền… Chưa kể hàng ngàn hecta cao su đã được người dân và DN trồng tại các huyện Thăng Bình, Phú Ninh, Nông Sơn, Tiên Phước…

Việc phát triển nóng các dự án trồng cao su cũng đã dẫn đến nhiều hệ lụy cho chính quyền và người dân địa phương. Cùng tại Quảng Nam, hiện một số diện tích quy hoạch để trồng cây cao su tại huyện Đông Giang thuộc các xã Ba, Tư và Ating, với tổng diện tích khoảng trên 4.000ha đang rơi vào tình trạng bỏ hoang. Theo UBND xã Ba, tại địa phương có trên 200ha bỏ trống do cây cao su phát triển kém.

Theo chính quyền địa phương đây là diện tích đất thuộc dự án trồng mới, chăm sóc cây cao su tại huyện Đông Giang do Công ty cổ phần Đầu tư và sản xuất Việt Hàn làm chủ đầu tư có tổng vốn đầu tư 640 tỷ đồng, triển khai. Song DN mới triển khai được 600ha; diện tích còn lại bị quy hoạch treo. Hệ lụy của việc triển khai quá chậm đã gây xáo trộn cuộc sống người dân ở nơi này.

Việc phát triển kinh tế và giúp người dân từng bước thoát nghèo, vươn lên làm giàu là chính đáng. Tuy nhiên, phải tiến hành dựa trên cơ sở khoa học và phải thuận theo điều kiện địa lý, khí hậu của từng địa phương để sao tránh được rủi ro không đáng có cho người dân và DN.

Nguồn :

Tags:
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,50
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,50
6,90
6,90
VietinBank
0,10
0,50
0,50
0,50
4,50
4,50
5,00
5,5
5,50
6,80
6,80
Eximbank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
6,80
8,00
ACB
0,30
1,00
1,00
1,00
4,80
5,00
5,10
6,00
6,00
6,60
6,90
Sacombank
0,30
-
-
-
4,70
5,20
5,30
6,10
6,20
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,70
4,70
4,90
5,90
5,90
6,50
6,60
LienVietPostBank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,50
4,50
5,10
5,80
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,50
5,50
5,50
7,00
7,20
7,20
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,80
6,80

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.260 23.350 26.270 26.742 29.947 29.410 19990 20697
BIDV 23.260 23.350 26.255 26.619 29.950 29.408 20365 20715
VietinBank 23.252 23.352 26.402 26.907 29.328 29.888 205,04 208,79
Agribank 23.280 23.360 26.317 26.670 29.491 29.935 204,58 208,00
Eximbank 23.250 23.350 26.437 26.790 29.466 29.859 205,83 208,58
ACB 23.270 23.350 26.454 26.795 29.572 29.878 205,97 208,62
Sacombank 23.266 23.358 26.496 26.853 29.556 29.918 206,00 209,05
Techcombank 23.250 23.360 26.153 26.871 29.118 29.944 204,33 209,65
LienVietPostBank 23.250 23.350 26.319 26.779 29.455 29.871 205,05 208,75
DongA Bank 23.270 23.350 26.470 26.780 29.480 29.840 204,50 208,40
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
36.340
36.520
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
36.340
36.500
Vàng SJC 5c
36.340
36.520
Vàng nhẫn 9999
35.220
35.620
Vàng nữ trang 9999
34.870
35.570