14:18 | 14/06/2017

Cập nhật thị trường toàn cầu sáng 14/6/2017

Chứng khoán châu Á biến động trái chiều, trong khi thị trường Úc và New Zealand tăng mạnh thì thị trường Trung Quốc lại suy yếu mặc dù số liệu cho thấy bán lẻ và sản lượng công nghiệp phục hồi. Đồng đôla Mỹ giảm và trái phiếu Kho bạc tăng cao hơn trước quyết định chính sách của Fed.

Chỉ số chuẩn của Hàn Quốc mất sạch mức tăng đầu phiên trái ngược với các cổ phiếu của Mỹ tăng lên mức cao nhất kể từ khi cổ phiếu ngành công nghệ hồi phục. Dữ liệu kinh tế từ Trung Quốc phần lớn phù hợp với dự báo, nhưng cổ phiếu lại giảm do lo ngại các nhà quản lý sẽ đưa ra những hạn chế hơn nữa về đầu tư của các công ty bảo hiểm.

Đồng yên ít thay đổi, trong khi đồng bảng Anh đã giảm sau khi tăng lên lần đầu tiên kể từ cuộc bầu cử ở Anh. Giá dầu tiếp tục đà giảm khi dữ liệu ngành công nghiệp cho thấy kho dự trữ dầu thô của Mỹ đã được mở rộng, càng làm tăng thêm lượng hàng tồn kho.

Sự hồi phục của các cổ phiếu công nghệ hôm thứ Ba ở châu Á được tiếp nối trong phiên giao dịch Mỹ, khôi phục lại động lực chính cho tăng trưởng cổ phiếu toàn cầu. Khủng hoảng chính trị ở Washington vẫn tiếp tục thu hút sự chú ý.

Những sự kiện đáng chú ý sắp tới:
- Các nhà hoạch định chính sách của Fed dự kiến ​​sẽ tăng lãi suất cơ bản lần thứ hai trong năm nay vào thứ Tư. Do điều này đã được mong đợi nhiều, nên yếu tố được cho là “nhạy cảm” hơn với thị trường sẽ liên quan đến các tín hiệu về chính sách trong tương lai - hoặc là lộ trình tăng lãi suất, hoặc là kế hoạch cắt giảm 4,5 nghìn tỷ bảng cân đối.
Các ngân hàng trung ương ở Nhật, Thụy Sĩ và Anh cũng dự kiến ​​sẽ cân nhắc với các quyết định chính sách trong tuần này.
Doanh số bán lẻ của Trung Quốc tăng 10,7% trong tháng 5 so với năm ngoái, phù hợp với dự báo, trong khi sản lượng công nghiệp tăng 6,5%, cao hơn một chút so với mức dự kiến ​​là 6,4%.
Sản lượng công nghiệp Nhật Bản tăng 5,7% trong tháng 4 so với năm ngoái và tăng 4% so với tháng trước, phù hợp với ước tính của thị trường.
Chỉ số niềm tin tiêu dùng Úc của Westpac giảm 1,8% xuống còn 96,2 điểm trong tháng 6. Một báo cáo về thị trường việc làm ở Úc sẽ được công bố vào thứ Năm.
Hàn Quốc công bố thất nghiệp giảm xuống 3,6% trong tháng 5, thấp hơn mức dự báo lạc quan nhất, từ mức 4% trong tháng Tư. Thâm hụt tài khoản vãng lai của New Zealand mở rộng lên 3,1% GDP.

Một số diễn biến chính trên thị trường:

Cổ phiếu:
Chỉ số Topix tăng 0,1% lúc 1h37 chiều Tokyo thời gian, hướng tới mức đóng cửa cao nhất trong một tuần.
Chỉ số Composite Thượng Hải giảm 0,6%; trong khi chỉ số CSI 300 giảm 1%, mức giảm mạnh nhất trong 3 tuần. Chỉ số Hang Seng giảm 0,3%; chỉ số Kospi ở Hàn Quốc giảm 0,2%; chỉ số MSCI châu Á Thái Bình Dương (trừ Nhật Bản) mất 0,1%.
Chứng khoán Úc tăng ngày thứ 4 liên tiếp, tăng 0,8%; chỉ số S&P ASX 200 đang ở mức cao nhất trong gần một tháng. Cổ phiếu New Zealand tăng 0,1%.
Hợp đồng tương lai chỉ số S&P 500 giảm 0,1% sau khi chỉ số chính tăng 0,5% trong phiên hôm qua. Chỉ số Nasdaq 100 tăng 0,8% trong phiên giao dịch hôm thứ ba, hồi phục sau sự hai ngày sụt giảm mạnh nhất trong năm.

Tiền tệ:
Đồng bảng Anh giảm 0,1% xuống còn 1,2746 USD sau khi tăng 0,8% vào hôm thứ Ba, tăng do dữ liệu cho thấy lạm phát ở Anh đã tăng hồi tháng trước.
Đôla Canada là đồng tiền tăng giá mạnh nhất, tăng trong ngày thứ 5 liên tiếp khi tăng 0,2%.
Chỉ số Bloomberg Dollar Spot Index giữ nguyên mức giảm 0,2% của phiên hôm qua. Đồng yên không thay đổi ở mức 110,06 JPY/USD.
Đôla Úc cũng tăng 0,1% lên 0,7544 cent Mỹ. Đồng Won của Hàn Quốc, đồng tiền mạnh nhất châu Á trong năm nay, tăng 0,2% lên 1.126,35 KRW/USD.

Trái phiếu:
Lợi suất trái phiếu Kho bạc kỳ hạn 10 năm của Mỹ giảm 1 điểm cơ bản xuống 2,20%.
Trái phiếu chính phủ Úc kỳ hạn 10 năm vẫn ổn định, với lợi suất ở mức 2,40%.

Hàng hóa:
- Giá dầu thô ngọt nhẹ WTI giảm 1% xuống còn 46 USD/thùng. Tồn kho dầu của Hoa Kỳ đã tăng 2,75 triệu thùng trong tuần trước, Viện Nghiên cứu Dầu mỏ Hoa Kỳ cho biết.
- Giá quặng sắt tương lai ở Đại Liên đã đảo ngược những tổn thất trước đó, tăng 1,6% lên 425 yuan/tấn sau khi dữ liệu kinh tế ổn định của Trung Quốc.

Nguồn :

Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,20
0,50
0,50
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,50
6,50
6,50
BIDV
0,20
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,50
6,90
7,00
VietinBank
0,20
0,50
0,50
0,50
4,30
4,30
4,80
5,30
5,50
6,80
6,80
Eximbank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
6,20
8,00
ACB
0,30
1,00
1,00
1,00
4,70
4,70
5,00
5,50
5,50
6,20
6,50
Sacombank
0,30
-
-
-
5,00
5,10
5,40
6,00
6,00
6,80
7,30
Techcombank
-
0,50
0,50
0,50
4,70
4,70
4,90
5,60
5,80
6,40
6,70
LienVietPostBank
0,60
1,00
1,00
1,00
4,40
4,50
5,00
5,50
5,70
6,80
7,20
DongA Bank
-
0,30
0,30
0,30
4,90
5,00
5,20
6,10
6,40
7,10
7,50
Agribank
0,30
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,50
6,50
6,80

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 22.695 22.765 25.257 25.559 28.641 29.100 201,36 205,21
BIDV 22.690 22.760 25.267 25.556 28.654 29.089 202,05 205,04
VietinBank 22.695 22.775 25.267 25.551 28.654 29.097 201,94 20496
Agribank 22.680 22.760 25.231 25.547 28.655 28.099 201,90 20513
Eximbank 22.670 22.770 25.245 25.574 28.744 29.118 202,64 205,29
ACB 22.700 22.770 25.273 25.590 28.843 29.132 202,75 205,29
Sacombank 22.686 22.769 25.292 25.647 28.812 29.175 202,67 205,77
Techcombank 22.680 22.770 25.048 25.628 28.468 29.136 201,40 206,08
LienVietPostBank 22.670 22.760 24.040 25.583 28.818 28.108 200,82 205,22
DongA Bank 22.700 22.770 25.280 25.580 28.790 29.140 202,60 205,10
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
36.250
36.470
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
36.250
36.450
Vàng SJC 5c
36.250
36.470
Vàng nhẫn 9999
34.570
34.970
Vàng nữ trang 9999
34.270
34.970