09:16 | 20/06/2019

Chủ tịch Fed Powell: Không có nhiều yếu tố hỗ trợ cho việc cắt giảm lãi suất

Chủ tịch Cục Dự trữ Liên bang Mỹ Jerome Powell cho biết hôm thứ Tư, tại cuộc họp của ngân hàng trung ương nước này, rằng cơ sở cho kịch bản cắt giảm lãi suất là không đủ mạnh.

Giá vàng tuần tới: Chờ đợi động thái từ Fed
Các nhà kinh tế dự báo Fed sẽ cắt giảm lãi suất
Thị trường dự báo Fed sẽ cắt giảm lãi suất hai lần từ nay đến tháng Một

“Hiện tại, không có nhiều yếu tố hỗ trợ cho việc cắt giảm lãi suất, theo những gì được phân tích tại cuộc họp này”, ông Powell nói tại họp báo sau khi Fed đưa ra quyết định giữ lãi suất ổn định.

Căng thẳng thương mại với Trung Quốc không nhất thiết phải dẫn tới việc cắt giảm lãi suất

Jerome Powell cũng cho biết: “Một số thành viên đã dẫn ra lý do cho việc cắt giảm lãi suất, nhưng hầu như tất cả ngoại trừ một thành viên cảm thấy rằng sẽ tốt hơn nếu tiếp tục theo dõi diễn biến thị trường trước khi đưa ra quyết định giảm lãi suất”.

Ủy ban Thị trường mở Liên bang (FOMC) đã bỏ phiếu với tỷ lệ 9-1 nghiêng về quyết định giữ lãi suất chuẩn trong phạm vi mục tiêu từ 2,25% đến 2,5%. Trong đó, chỉ có Chủ tịch Fed St. Louis, ông James Bullard, đã bỏ phiếu đồng ý giảm lãi suất.

Ông Powell cho biết FOMC muốn chờ xem liệu các dấu hiệu căng thẳng gần đây có được giải quyết hay không, trước khi đưa ra quyết định chuyển hướng chính sách tiền tệ sang nới lỏng.

“Những thay đổi gần đây là quá thường xuyên đến nỗi chúng tôi muốn theo dõi xem liệu chúng có định hình trở lại. Chúng tôi cảm thấy rằng sẽ tốt hơn nếu có được một bức tranh rõ ràng về mọi thứ. Chúng tôi sẽ hành động khi cần thiết, thậm chí là ngay lập tức nếu điều đó là phù hợp, và sử dụng các công cụ của chúng tôi để duy trì tăng trưởng kinh tế”, ông Powell cho biết hôm thứ Tư.

Dữ liệu gần đây cho thấy kinh tế Mỹ có sự suy yếu, với chỉ tiêu về tạo việc làm chậm lại đáng kể trong tháng 5, trong khi lạm phát vẫn luôn nằm dưới ngưỡng mục tiêu 2% của Fed.

Powell cũng lưu ý rằng “thông tin về hoạt động thương mại có tác động đáng kể tới nhận định về tình hình kinh tế của Fed”, nhưng căng thẳng thương mại với Trung Quốc không nhất thiết phải dẫn tới việc cắt giảm lãi suất.

Nguồn :

Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,50
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,90
6,90
VietinBank
0,10
0,50
0,50
0,50
4,50
4,50
5,00
5,5
5,50
6,80
6,80
Eximbank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
6,80
8,00
ACB
0,30
1,00
1,00
1,00
5,10
5,20
5,40
6,40
6,40
6,80
7,80
Sacombank
0,30
-
-
-
5,00
5,40
5,50
6,50
6,70
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,80
4,80
5,00
6,10
6,00
6,50
6,60
LienVietPostBank
0,30
1,00
1,00
1,00
5,00
5,00
5,10
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,50
5,50
5,50
7,10
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,80
6,80

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.140 23.260 25.903 26.761 28.708 29.168 207,73 215,91
BIDV 23.140 23.260 25.886 26.631 28.688 29.173 212,15 217,57
VietinBank 23.130 23.260 25.887 26.682 28.637 29.277 212,36 218,86
Agribank 23.145 23.250 25.890 26.286 28.710 29.185 212,32 216,19
Eximbank 23.140 23.250 25.916 26.274 28.806 29.204 213,25 216,20
ACB 23.130 23.250 25.917 26.274 28.875 29.199 213,18 216,12
Sacombank 23.100 23.250 25.912 26.317 28.826 29.228 212,26 216,81
Techcombank 23.120 23.260 25.656 26.516 28.457 29.326 211,63 218,93
LienVietPostBank 23.130 23.250 25.849 26.328 28.830 29.260 212,79 216,73
DongA Bank 23.160 23.240 25.940 26.260 28.810 29.180 209,90 215,60
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
39.200
39.470
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
39.200
39.450
Vàng SJC 5c
39.200
39.470
Vàng nhẫn 9999
39.080
39.580
Vàng nữ trang 9999
38.780
39.580