16:22 | 14/03/2018

Diễn biến thị trường toàn cầu ngày 14/3/2018

Các thị trường cổ phiếu châu Âu tăng khi dữ liệu kinh tế tích cực từ Trung Quốc nâng giá cổ phiếu của ngành khai thác mỏ. Trong khi chứng khoán châu Á và châu Mỹ sụt giảm sau khi Ngoại trưởng Mỹ Rex Tillerson bị sa thải đã làm dấy lên nỗi lo về cách tiếp cận đơn phương đối với thương mại, an ninh quốc gia và ngoại giao của chính quyền Tpump.

Chỉ số Stoxx Europe 600 Index tăng cao hơn, với cổ phiếu của các nhà sản xuất nguyên liệu thô tăng mạnh sau khi sản lượng của nhà máy và sự tăng trưởng đầu tư ở Trung Quốc – quốc gia tiêu thụ hàng hóa lớn nhất của ngành khai thác mỏ - đột ngột tăng tốc trong hai tháng đầu năm. Chỉ số chứng khoán tương lai của Mỹ cũng tăng cao.

Trong khi đó, các chỉ số chuẩn trên khắp châu Á sụt giảm mạnh sau khi Ngoại trưởng Mỹ Rex Tillerson bất ngờ bị sa thải. Trái phiếu Kho bạc Mỹ đã giữ được mức tăng trong khi đồng đôla ổn định. Đồng euro suy yếu và lợi suất trái phiếu Đức giảm.

“Thị trường đã nhanh chóng chuyển từ lo ngại về lạm phát sang tập trung vào sự bất ổn về chính trị ở Mỹ”, Tai Hui - chiến lược gia về thị trường châu Á tại JPMorgan Asset Management Ltd. “Hy vọng rằng Fed có thể lấy lại một phần niềm tin cho thị trường vào tuần tới bằng cách làm rõ quan điểm của mình về chính sách tiền tệ”.

Việc Tillerson bị sa thải đã làm dấy lên mối lo ngại về sự trỗi dậy của chủ nghĩa bảo hộ tại Nhà Trắng và thúc đẩy kế hoạch áp đặt thuế quan của Tổng thống Donald Trump.

Trong khi đó, báo cáo lạm phát tháng 2 tại Mỹ được công bố hôm thứ Ba đã không làm thay đổi nhiều kỳ vọng của giới thương nhân về lộ trình thắt chặt của Fed, mặc dù lợi suất trái phiếu Kho bạc 10 năm đã giảm xuống 2,84%. Các báo cáo về doanh số bán lẻ và giá bán buôn sắp được công bố có thể làm sáng tỏ thêm về nền kinh tế Mỹ khi Fed chuẩn bị nhóm họp để quyết định về chính sách tiền tệ vào tuần tới.

Những thông tin đáng chú ý trong tuần:

- Số liệu về doanh số bán lẻ và giá bán buôn của Mỹ sẽ có vào thứ Tư.
- Còn tại châu Âu, số liệu về sản lượng của nhà máy được công bố vào thứ Tư và lạm phát vào thứ Năm.
- Cũng trong tuần này, Thủ tướng Đức Angela Merkel sẽ bắt đầu nhiệm kỳ thứ tư, và các quan chức chính phủ 27 quốc gia thành viên EU sẽ thảo luận về vị thế Brexit của EU.
- Số liệu GDP của New Zealand sẽ được công bố vào thứ Năm.
- Người dân Nga sẽ tiến hành bỏ phiếu bầu cử tổng thống vào Chủ Nhật, cuộc bầu cử mà ông Vladimir Putin được kỳ vọng sẽ giành chiến thắng.

Một số diễn biến chính trên thị trường:

Cổ phiếu:
- Chỉ số Stoxx Europe 600 tăng 0,1% vào lúc 8h28 sáng giờ London.
- Chỉ số FTSE 100 của Vương quốc Anh tăng 0,2%.
- Chỉ số DAX của Đức tăng 0,2%.
- Hợp đồng tương lai chỉ số S&P 500 tăng 0,3%.
- Chỉ số MSCI Châu Á - Thái Bình Dương giảm 0,5%.
- Chỉ số Topix của Nhật giảm 0,5%; Hang Seng của Hồng Kông sụt giảm 1%; Kospi của Hàn Quốc mất 0,3% và chỉ số S&P/ASX 200 của Úc giảm 0,7%.

Tiền tệ:
- Chỉ số Bloomberg Dollar Spot tăng ít hơn 0,05%.
- Đồng euro giảm 0,2% xuống còn 1,2369 USD.
- Đồng bảng Anh giảm 0,1% xuống còn 1,3946 USD.
- Yên Nhật giảm 0,1% xuống còn 106,66 JPY/USD.

Trái phiếu:
- Lợi suất trái phiếu Kho bạc Mỹ kỳ hạn 10 năm giảm 1 điểm cơ bản xuống còn 2,84%, mức thấp nhất trong gần 2 tuần.
- Lợi suất trái phiếu 10 năm của Đức giảm 1 điểm cơ bản xuống còn 0,62%, mức thấp nhất trong 7 tuần.
- Lợi suất trái phiếu 10 năm của Anh giảm 2 điểm cơ bản xuống còn 1.487%.
- Lợi suất trái phiếu 10 năm của Nhật giảm gần 1 điểm cơ bản xuống còn 0,05%.

Hàng hóa:
- Giá dầu thô WTI tăng 0,1% lên 60,75 USD/thùng.
- Vàng giảm 0,2% xuống còn 1.324,30 USD/oz.
- Giá đồng LME tăng 0,5% lên mức 6.982 USD/tấn, mức cao nhất trong hơn 1 tuần.

Nguồn :

Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,50
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,90
6,90
VietinBank
0,10
0,50
0,50
0,50
4,50
4,50
5,00
5,5
5,50
6,80
6,80
Eximbank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
6,80
8,00
ACB
0,30
1,00
1,00
1,00
5,10
5,20
5,40
6,40
6,40
6,60
6,90
Sacombank
0,30
-
-
-
5,00
5,40
5,50
6,50
6,70
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,80
4,80
5,00
6,30
5,90
6,70
6,60
LienVietPostBank
0,30
1,00
1,00
1,00
5,00
5,00
5,10
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,50
5,50
5,50
7,10
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,80
6,80

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.155 23.255 26.176 26.911 30.095 30.577 203,19 211,64
BIDV 23.155 23.255 26.153 26.529 30.109 30.591 207,04 210,69
VietinBank 23.145 23.255 26.163 26.888 31.084 30.724 207,01 213,51
Agribank 23.150 23.245 26.149 26.524 30.113 30.576 207,03 210,80
Eximbank 23.140 23.240 26.167 26.517 30.198 30.603 207,82 210,60
ACB 23.160 23.240 26.188 26.526 30.316 30.630 207,98 210,66
Sacombank 23.098 23.260 26.176 26.590 30.250 30.655 207,02 211,59
Techcombank 23.120 23.255 25.906 26.651 30.856 31.731 206,32 211,96
LienVietPostBank 23.140 23.240 26.096 26.552 30.230 30.651 207,23 210,96
DongA Bank 23.170 23.240 26.210 26.520 30.250 30.610 204,50 210,30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
36.590
36.750
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
36.590
36.730
Vàng SJC 5c
36.590
36.750
Vàng nhẫn 9999
36.590
36.990
Vàng nữ trang 9999
36.590
37.090