15:21 | 09/10/2019

Giá dầu 'rơi' phiên thứ ba do căng thẳng thương mại Mỹ - Trung đe dọa giảm nhu cầu

Đến thứ Tư tuần này, giá dầu đã giảm phiên thứ ba liên tiếp khi căng thẳng Mỹ - Trung leo thang trước cuộc đàm phán thương mại dự kiến diễn ra cuối tuần này, làm gia tăng sự không chắc chắn cho tăng trưởng kinh tế toàn cầu và nhu cầu về dầu.

Căng thẳng thương mại Mỹ - EU: Rủi ro mới đối với kinh tế toàn cầu
Đàm phán thương mại Mỹ - Trung sẽ nối lại từ ngày 10/10
Kinh tế châu Á xấu đi vì căng thẳng thương mại
Gia tăng số công ty Mỹ hủy bỏ kế hoạch đầu tư vào Trung Quốc

Dữ liệu ngành công nghiệp của Mỹ cho thấy sự gia tăng lớn hơn dự kiến ​​của các kho dự trữ của nhà sản xuất dầu hàng đầu thế giới.

Hợp đồng tương lai dầu Brent tương lai đã giảm 12 cent, tương đương 0,2%, xuống 58,12 USD/thùng, trong khi dầu WTI ở mức 52,51 USD, giảm 12 cent, tương đương 0,2%.

Các nhà đàm phán từ hai nền kinh tế hàng đầu thế giới sẽ gặp nhau tại Washington vào thứ Năm và thứ Sáu tuần này, trong một nỗ lực mới nhằm chấm dứt cuộc tranh chấp thương mại kéo dài làm chậm lại tăng trưởng kinh tế toàn cầu.

Nhưng, căng thẳng giữa các quốc gia này vừa gia tăng sau khi Mỹ hạn chế thị thực đối với các quan chức Trung Quốc do các cáo buộc liên quan đến nhóm thiểu số Hồi giáo, trong khi dư luận Trung Quốc phản ứng với phát ngôn ủng hộ các cuộc biểu tình ở Hồng Kông của một lãnh đạo Hiệp hội Bóng rổ Quốc gia Mỹ NBA.

Các vấn đề mới nổi lên đã đặt thị trường vào một tình thế rủi ro, Howie Lee, một nhà kinh tế của Ngân hàng OCBC của Singapore, nhìn nhận, mặc dù thị trường dầu mỏ toàn cầu vẫn trong tình trạng hụt cung mà theo lý thuyết phải hỗ trợ giá ở mức trên 60 USD/thùng.

“Thị trường đang giảm giá quá mức, do quá chú ý tới phía cầu”, Lee nói.

Những quan ngại về tình hình kinh tế và thương mại thế giới nổi lên gần đây đã làm lu mờ mối đe dọa giảm cung từ thành viên OPEC.

Ecuador mất một phần ba nguồn cung dầu do các cuộc biểu tình chống chính phủ. Công ty nhà nước Petroamazonas của Ecuador ước tính có thể mất khoảng 188.000 thùng mỗi ngày, do tình trạng bất ổn tại các cơ sở sản xuất của họ.

Cuộc nổi dậy ở Iraq cũng đã bước sang tuần thứ hai, đe dọa sản lượng cung cấp của nhà sản xuất lớn thứ hai của OPEC.

“Những bất ổn chính trị ở các nước thành viên OPEC sẽ chỉ tác động tạm thời tới giá dầu, trong khi rủi ro từ căng thẳng thương mại Mỹ - Trung Quốc tạo áp lực lớn hơn nhiều”, Jeff Halley, nhà phân tích thị trường cao cấp khu vực Châu Á - Thái Bình Dương tại công ty môi giới OANDA, lưu ý.

Diễn biến giá dầu WTI 

Trong khi đó tại thị trường Mỹ, dự trữ dầu thô tăng 4,1 triệu thùng trong tuần kết thúc vào ngày 4/10, lên tới 422 triệu thùng, theo dữ liệu từ tập đoàn công nghiệp Viện Dầu khí Mỹ công bố hôm thứ Ba.

Trong báo cáo hàng tuần mới công bố, Cơ quan Thông tin Năng lượng Mỹ (EIA) cho biết sản lượng dầu thô của Mỹ dự kiến ​​sẽ tăng 1,27 triệu thùng mỗi ngày vào năm 2019, cao hơn một chút so với dự báo trước đó là tăng 1,25 triệu thùng/ngày, lên mức kỷ lục 12,26 triệu thùng/ngày.

Sản lượng trong năm 2020 được dự báo sẽ tăng 910.000 thùng/ngày lên 13,17 triệu thùng/ngày.

Nguồn :

Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,50
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,90
6,90
VietinBank
0,10
0,50
0,50
0,50
4,50
4,50
5,00
5,5
5,50
6,80
6,80
Eximbank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
6,80
8,00
ACB
0,30
1,00
1,00
1,00
5,10
5,20
5,40
6,40
6,40
6,80
7,80
Sacombank
0,30
-
-
-
5,00
5,40
5,50
6,50
6,70
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,80
4,80
5,00
6,10
6,00
6,50
6,60
LienVietPostBank
0,30
1,00
1,00
1,00
5,00
5,00
5,10
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,50
5,50
5,50
7,10
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,80
6,80

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.115 23.265 25.472 26.346 29.403 29.904 205,46 219,78
BIDV 23.145 23.265 25.550 26.305 29.497 30.058 210,52 214,35
VietinBank 23.132 23.262 25.475 26.310 29.373 30.013 210,35 216,35
Agribank 23.145 23.250 25.360 25.851 28.923 29.401 211,55 215,40
Eximbank 23.140 23.250 25.497 25.849 29.521 29.930 211,71 214,65
ACB 23.130 23.255 25.502 25.841 29.590 29.909 211,60 214,42
Sacombank 23.108 23.268 25.517 25.974 29.571 29.974 210,87 215,41
Techcombank 23.140 23.280 25.263 26.257 29.193 30.110 210,19 217,35
LienVietPostBank 23.130 23.250 25.427 25.886 29.542 29.967 211,19 215,03
DongA Bank 23.160 23.250 25.520 25.840 29.530 29.920 208,30 214,20
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
41.470
41.760
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
41.470
41.740
Vàng SJC 5c
41.470
41.760
Vàng nhẫn 9999
41.460
41.910
Vàng nữ trang 9999
40.940
41.740