10:30 | 02/11/2018

Moody’s nâng xếp hạng các ngân hàng Việt

Hãng xếp hạng tín nhiệm toàn cầu Moody’s vừa nâng xếp hạng nhà phát hành nội và ngoại tệ dài hạn; xếp hạng tiền gửi nội tệ dài hạn của 5 ngân hàng Việt Nam và xác nhận tương tự cho 11 ngân hàng Việt khác; nâng xếp hạng tiền gửi ngoại tệ dài hạn của 2 ngân hàng Việt Nam, và xác nhận tương tự cho 14 ngân hàng còn lại.

Moody's nâng bậc xếp hạng tín nhiệm của HDBank lên B1
TPBank tiếp tục được Moody’s nâng mức xếp hạng tín nhiệm

Các ngân hàng được Moody’s đánh giá đợt này bao gồm: Ngân hàng TMCP An Bình (ABBank); Ngân hàng TMCP Á Châu (ACB); Ngân hàng TMCP Phát triển Thành phố Hồ Chí Minh (HDBank); Ngân hàng TMCP Ngoại thương (Vietcombank); Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển (BIDV); Ngân hàng TMCP Bưu điện Liên Việt (LienVietPostbank); Ngân hàng TMCP Quân đội (MB), Ngân hàng TMCP Phương Đông (OCB); Ngân hàng TMCP Sài Gòn - Hà Nội (SHB); Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín (Sacombank); Ngân hàng TMCP Tiên Phong (TPBank); Ngân hàng Quốc tế (VIB); Ngân hàng TMCP Công thương (VietinBank); Ngân hàng TMCP Hàng hải Việt Nam (MSB); Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh vượng (VP Bank); Ngân hàng TMCP Kỹ thương (Techcombank).

Ảnh minh họa

Đồng thời, Moody’s cũng đã nâng xếp hạng rủi ro đối tác lâu dài (CRR) và đánh giá rủi ro đối tác (CRA) của 8 ngân hàng và xác nhận tương tự cho 8 ngân hàng khác; nâng đánh giá tín dụng cơ sở (BCA) và BCA được điều chỉnh của 12 ngân hàng và xác nhận tương tự cho 4 ngân hàng còn lại.

Trong trường hợp của Sacombank, triển vọng đã được chuyển thành “ổn định” từ “tiêu cực”. Triển vọng của 15 ngân hàng còn lại vẫn được giữ nguyên ở mức “ổn định”.

Động thái nâng xếp hạng tín nhiệm của Moody’s đối với các ngân hàng Việt lần này phản ánh kỳ vọng rằng sự tăng trưởng kinh tế mạnh mẽ rõ ràng ở Việt Nam sẽ hỗ trợ chất lượng tài sản và lợi nhuận của các ngân hàng.

Phân tích cụ thể từng ngân hàng, Moody’s cho biết, việc nâng BCA của Vietcombank, BIDV và VietinBank chủ yếu do những cải thiện về chất lượng tài sản của các ngân hàng này. Nguồn vốn và thanh khoản của các ngân hàng này ổn định do ít phụ thuộc hơn vào các quỹ thị trường. Tuy nhiên, vốn vẫn là điểm yếu của cả 3 ngân hàng.

Trong khi việc nâng BCA của ABBank, ACB, MB, OCB, TPBank, VIB và Techcombank chủ yếu do những cải thiện về sức mạnh tín dụng nội tại của các ngân hàng này, đặc biệt là những tiến bộ trong việc xử lý các tài sản có vấn đề. Riêng với OCB, TPBank và Techcombank còn nhờ việc tăng cường vốn hóa. Moody’s cũng kỳ vọng lợi nhuận của 7 ngân hàng này sẽ được cải thiện trong vòng 12-18 tháng tới do chi phí tín dụng giảm.

Còn việc nâng BCA của VPBank là do Moody’s có tính đến khả năng sinh lời cao và vốn hóa mạnh, bù đắp rủi ro tín dụng cao từ danh mục tài chính tiêu dùng của ngân hàng này.

Với HDBank, việc Moody’s nâng BCA của ngân hàng này chủ yếu là nhờ sự cải thiện về vốn hóa và khả năng sinh lời. Động thái này cũng tính đến việc sáp nhập sắp xảy ra giữa HDBank và Ngân hàng TMCP Petrolimex (PGBank, chưa được xếp hạng). Moody’s kỳ vọng lợi nhuận của ngân hàng sáp nhập trên tài sản hữu hình sẽ giảm do chi phí hoạt động và tín dụng cao hơn; tuy nhiên nguồn vốn và thanh khoản sẽ ổn định hơn.

Với 4 ngân hàng còn lại, Moody’s cho biết, việc xác nhận BCA của MSB, SHB và LienVietPostBank phản ánh kỳ vọng của Moody’s rằng hồ sơ tín dụng của các ngân hàng sẽ vẫn ổn định trong vòng 12-18 tháng tới. Theo định chế này, mặc dù khả năng thanh toán của các ngân hàng trên là khiêm tốn so với những ngân hàng được xếp hạng khác, nhưng phần nào được cân đối bằng nguồn vốn và thanh khoản của họ.

Trong khi việc xác nhận BCA của Sacombank là do ngân hàng vẫn phải đối mặt với rủi ro đáng kể từ tài sản của mình, vượt quá 20% tổng tài sản tính đến 30/6/2018.

Các đánh giá của Moody’s đối với 16 ngân hàng Việt lần này dựa trên giả định là khả năng hỗ trợ “rất cao” của Chính phủ trong những lần cần phải xếp hạng của ba ngân hàng có vốn Nhà nước là Vietcombank, BIDV và VietinBank; và khả năng hỗ trợ “trung bình” của Chính phủ đối với các ngân hàng thuộc khu vực tư nhân còn lại.

Giả định về hỗ trợ của Chính phủ của Moody’s cũng được thúc đẩy bởi tầm quan trọng mang tính hệ thống tương đối cao của các ngân hàng này đối với hệ thống ngân hàng Việt Nam, đặc biệt là các ngân hàng có vốn Nhà nước.

Việc nâng xếp hạng các tổ chức phát hành nội ngoại tệ dài hạn và nâng xếp hạng tiền gửi nội tệ dài hạn của ACB, MB và Techcombank, cũng như xếp hạng phát hành nội ngoại tệ dài hạn và xếp hạng tiền gửi của HDBank và OCB là nhờ việc nâng BCA của các ngân hàng này.

Tương tự, việc nâng cấp CRR và CRA dài hạn của ABB, ACB, Vietcombank, MB, TPBank, VIB, VP Bank và Techcombank cũng được thúc đẩy bởi việc nâng cấp BCA.

Tuy nhiên xếp hạng tiền gửi ngoại tệ của tất cả các ngân hàng Việt Nam được xếp hạng vẫn bị giới hạn ở mức B1, vì trần quốc gia của Việt Nam đối với tiền gửi ngoại tệ là B1.

Còn nhớ hôm 14/8, Moody’s cũng đã nâng xếp hạng đối với 12 ngân hàng Việt Nam sau khi đã nâng xếp hạng tín nhiệm của Việt Nam từ mức B1 lên Ba3 hôm 10/8. Theo đó, Moody’s nâng xếp hạng tiền gửi và phát hành nội ngoại tệ dài hạn cho Vietcombank, BIDV và VietinBank; nâng xếp hạng CRR và CRA của VietinBank và BIDV, giữ nguyên với Vietcombank.

Moody’s cũng nâng xếp hạng tiền gửi ngoại tệ dài hạn đối với ACB, MB và Techcombank; tuy nhiên các chỉ số xếp hạng khác của 3 ngân hàng này vẫn giữ nguyên. Đồng thời, Moody’s đã nâng xếp hạng tiền gửi nội - ngoại tệ và phát hành tiền gửi cho 5 ngân hàng gồm: ABBank, LienVietPostBank, TPBank, VIB, VPBank. Nâng xếp hạng CRR và CRA dài hạn đối với SHB, HDBank, OCB.

Moody’s cũng thay đổi triển vọng cho xếp hạng tiền gửi nội ngoại tệ và xếp hạng nhà phát hành tiền gửi đối với 8 ngân hàng gồm Vietcombank, BIDV, VietinBank, ABBank, LienVietPostBank, TPBank, VIB, VPBank từ mức “ổn định” lên “tích cực”.

Nguồn :

Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,50
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,90
6,90
VietinBank
0,10
0,50
0,50
0,50
4,50
4,50
5,00
5,5
5,50
6,80
6,80
Eximbank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
6,80
8,00
ACB
0,30
1,00
1,00
1,00
5,10
5,20
5,40
6,40
6,40
6,60
6,90
Sacombank
0,30
-
-
-
5,00
5,40
5,50
6,50
6,70
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,80
4,80
5,00
6,30
5,90
6,70
6,60
LienVietPostBank
0,30
1,00
1,00
1,00
5,00
5,00
5,10
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,50
5,50
5,50
7,10
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,80
6,80

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.160 23.260 26.087 26.819 30.483 30.971 201,03 208,95
BIDV 23.150 23.250 26.037 26.409 30.373 30.869 205,30 208,93
VietinBank 23.145 23.255 26.060 26.785 30.450 31.090 205,45 211,95
Agribank 23.150 23.240 25.967 26.341 30.017 30.479 205,91 209,46
Eximbank 23.150 23.250 26.084 26.433 30.605 31.015 206,32 209,09
ACB 23.160 23.240 26.015 26.478 30.595 31.062 205,76 209,43
Sacombank 23.102 23.264 26.072 26.485 30.633 31.038 205,46 210,03
Techcombank 23.130 23.250 25.821 26.545 30.246 31.109 204,96 210,40
LienVietPostBank 23.140 23.240 25.925 26.533 30.540 31.143 205,30 210,16
DongA Bank 23.160 23.240 26.040 26.470 30.540 31.070 202,60 209,20
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
36.500
36.670
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
36.500
36.650
Vàng SJC 5c
36.500
36.650
Vàng nhẫn 9999
36.450
36.850
Vàng nữ trang 9999
36.050
36.650