12:08 | 06/03/2018

NHTW Úc giữ nguyên lãi suất khi sự phân kỳ chính sách đè nặng lên đôla Úc

Ngân hàng Dự trữ Australia (NHTW – RBA) hôm thứu Ba đã quyết định giữ nguyên lãi suất khi sự phân kỳ chính sách của họ với các NHTW trên thế giới ngày càng lớn đang đè nặng lên đồng đôla Úc, có khả năng hỗ trợ tăng trưởng kinh tế và lạm phát.

Theo đó, Thống đốc RBA Philip Lowe và Hội đồng chính sách của ông đã giữ nguyên lãi suất ở mức thấp kỷ lục 1,5%, phù hợp với kỳ vọng của thị trường và các nhà kinh tế. Họ đang cố gắng để kéo dài sự bùng nổ trong tăng trưởng việc làm và tận dụng năng lực phụ trội trong thị trường lao động để tạo ra sự tăng trưởng tiền lương nhanh hơn. Thống đốc RBA cho biết ông đang thấy một số tiến bộ.

“Tốc độ tăng trưởng tiền lương dường như đã tạo đáy”, Lowe cho biết trong một thông báo về quyết định của RBA. “Lạm phát có thể sẽ vẫn thấp trong một thời gian, phản ánh sự tăng trưởng thấp về chi phí lao động và sự cạnh tranh mạnh mẽ trong lĩnh vực bán lẻ. Tuy nhiên, sự phục hồi của lạm phát là được kỳ vọng khi tăng trưởng kinh tế mạnh hơn”.

Đôla Úc ít thay đổi sau quyết định của RBA, giao dịch ở mức 77,82 UScent thời điểm 3h05 chiều ở Sydney.

RBA hiện vẫn đang đứng yên trong khi các nước phát triển đang có xu hướng bình thường hoá chính sách hoặc tăng lãi suất nhằm đáp ứng với thị trường việc làm chặt chẽ hơn và thúc đẩy tăng trưởng, vì họ đã vượt qua được cuộc suy thoái kinh tế toàn cầu 2008. Trong khi Úc vẫn đang gặp khó vì nhu cầu tài nguyên khổng lồ từ Trung Quốc giảm, và nền kinh tế của nước này ngày càng trở nên chậm chạp do nợ hộ gia đình tăng cao và sự tăng trưởng tiền lương yếu làm chậm lại tiêu dùng và lạm phát.

“Tăng trưởng tiền lương là vấn đề then chốt vì nó sẽ thúc đẩy lạm phát, tuy nhiên nó (tăng trưởng tiền lương) vẫn còn yếu ớt; mức lương thực đã trì trệ trong năm qua”, Sarah Hunter – trưởng bộ phận kinh tế vĩ mô của Australia tại BIS Oxford Economics nói. “Chúng tôi không thấy lãi suất sẽ tăng cho đến năm 2019, có thể là nửa cuối năm”.

Đôla Úc đã giảm khoảng 1,6% trong tháng vừa qua, mặc dù nó tiếp tục nhận được hỗ trợ từ giá hàng hóa mạnh hơn chắc chắn sẽ ngăn chặn được sự sụt giảm mạnh.

Bill Evans - Chuyên gia kinh tế tại Westpac Banking Corp dự đoán, lãi suất quỹ liên bang Mỹ sẽ cao hơn 112 điểm cơ bản so với lãi suất chính sách của RBA vào năm 2019. Ông cho rằng, Fed sẽ tăng lãi suất lên 2,625% trong năm tới trong khi Lowe và Hội đồng chính sách của ông vẫn giữ nguyên lãi suất cho đến năm 2020.

“Sự biến động của thị trường đã tăng lên từ mức thấp của năm ngoái”, Lowe nói. “Khi các điều kiện đã được cải thiện trong nền kinh tế toàn cầu, một số NHTW đã rút lại một số biện pháp kích thích tiền tệ”. Ông lưu ý rằng đồng đôla Úc “vẫn trong phạm vi mà nó đã ở trong hơn hai năm qua”.

Nói về tăng trưởng kinh tế, RBA đã thay đổi ngôn ngữ của mình về tổng sản phẩm quốc nội trong bản tuyên bố, loại bỏ dự báo rõ ràng hơn của mình về tăng trưởng “trên 3% một chút trong vài năm tới” và thay bằng “Dự báo của NHTW là nền kinh tế Úc tăng trưởng nhanh hơn vào năm 2018 so với năm 2017”.

GDP quý 4/2017 của Úc sẽ được công bố vào ngày mai. Tăng trưởng có thể bị chậm lại sau khi xuất khẩu giảm trong giai đoạn này, với các lô hàng than bị cản trở do thời tiết xấu và các vấn đề liên quan. Trong cùng thời điểm, chính sách tiền tệ dễ dãi của RBA đã khuyến khích đầu tư kinh doanh và thúc đẩy việc tuyển dụng nhân công, ví dụ như 400.000 việc làm mới đã được bổ sung vào năm 2017, chiếm 3/4 trong số đó là toàn thời gian.

 

Thế nhưng, mặc dù tỷ lệ thất nghiệp ở mức 5,5%, thấp hơn khoảng một nửa điểm phần trăm so với tính toán của NHTW là việc làm đầy đủ, lạm phát vẫn lơ lửng dưới mức thấp của mục tiêu 2% đến 3%. RBA muốn lạm phát đạt gần những mục tiêu đó trước khi họ bắt đầu thắt chặt, Lowe đã chỉ ra.

RBA cũng lưu ý rằng, tăng trưởng giá nhà ở Sydney và Melbourne đã chậm lại. Họ cho biết các biện pháp quản lý đã giúp loại bỏ “sự gia tăng rủi ro trong bảng cân đối hộ gia đình, mặc dù mức nợ hộ gia đình vẫn còn cao”.

Nguồn :

Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,10
4,10
4,60
5,10
5,50
6,50
6,50
BIDV
0,10
-
-
-
4,30
4,30
4,60
5,30
5,50
6,90
6,90
VietinBank
0,10
0,50
0,50
0,50
4,30
4,30
4,60
5,30
5,50
6,80
6,80
Eximbank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
6,80
8,00
ACB
0,30
1,00
1,00
1,00
5,00
5,20
5,30
5,90
5,90
6,70
6,70
Sacombank
0,30
-
-
-
4,70
5,20
5,30
6,10
6,20
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,50
4,50
4,60
5,50
5,50
6,40
6,40
LienVietPostBank
0,60
1,00
1,00
1,00
4,10
4,10
4,60
5,10
5,50
6,70
7,20
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,50
5,50
5,50
7,00
7,20
7,20
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,30
4,20
4,60
5,30
5,50
6,80
6,80

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.250 23.330 26.969 27.291 30.270 30.755 204,87 213,07
BIDV 23.250 23.330 26.977 27.300 30.290 30.758 205,02 208,45
VietinBank 23.243 23.333 26.916 27.294 30.239 30.799 204,95 208,35
Agribank 23.245 23.325 26.965 27.302 30.314 30.752 205,10 208,34
Eximbank 23.240 23.340 26.980 27.341 30.401 30.807 205,69 208,44
ACB 23.260 23.340 27.000 27.348 30.498 30.814 205,83 208,48
Sacombank 23.254 23.346 27.004 27.363 30.468 30.830 205,87 208,91
Techcombank 23.220 23.330 26.711 27.440 30.045 30.888 204,37 209,70
LienVietPostBank 23.220 23.320 26.906 27.371 30.427 30.846 205,30 209,02
DongA Bank 23.260 23.340 27.990 27.290 30.390 30.770 204,40 208,40
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
36.510
36.680
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
36.510
36.660
Vàng SJC 5c
36.510
36.680
Vàng nhẫn 9999
34.300
34.700
Vàng nữ trang 9999
33.850
34.650