09:36 | 12/08/2019

Những vụ cà phê chưa hết… đắng

Cục Xuất nhập khẩu (Bộ Công thương) dự báo, thị trường cà phê toàn cầu trong thời gian tới sẽ vẫn gặp khó khăn do nguồn cung đang vượt nhu cầu.

Ông Lương Văn Tự, chủ tịch Hiệp hội Cà phê Ca cao Việt Nam (Vicofa), cho biết,  vụ cà phê 2019 - 2020 là vụ sản lượng cà phê Việt Nam đạt thấp, do vụ 2017 - 2018 là vụ có sản lượng cao hơn vụ trước và đối với sinh lý cây cà phê thì năm trước được mùa năm sau sẽ mất mùa. Tiếp theo là giảm diện tích do giá cà phê thấp, lợi nhuận từ các cây trồng khác (bơ, sầu riêng) cao gấp 3 - 4 lần nên người nông dân đã chuyển sang các cây trồng khác và xen canh trong vườn cà phê.

Theo thống kê của Cục Trồng trọt (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông  thôn),  diện tích này đã lên 102.000 ha, khiến diện tích cây cà phê giảm đáng kể  dẫn đến giảm sản lượng trong vụ tới. Ngoài ra, năm nay mưa nhiều và mưa lớn kéo dài, nước đọng, nhiều vườn cà phê quả non rụng quá mức bình thường. Có những vùng ở Gia Lai mức rụng quả lên đến 20%, các vùng khác trên 10%… nên dự báo sản lượng vụ tới thấp hơn vụ vừa qua.

Thị trường cà phê trong nước hiện vẫn rất ảm đạm

Yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến sản lượng của cây cà phê là giá thành sản phẩm hạt cà phê quá thấp, ngang mức sàn (giá cà phê nhân xô chỉ còn 30.000 đồng - 33.000 đồng/kg). Trong khi giá nhân công, phân bón luôn ở mức cao. Điều nghịch lý này đã khiến người đầu tư vào trồng cà phê rất vất vả, thu không đủ chi, dẫn đến chán nản và chặt bỏ rất nhiều vườn cà phê để trồng các loại cây khác có doanh thu tốt hơn, mà giá ít bị biến động hơn, chịu hạn được tốt hơn như sầu riêng, chanh leo, bơ…

Cụ thể, tại tỉnh Đắk Lắk đến cuối tháng 4/2019, thời tiết mới bắt đầu mưa, trong khi đầu mùa vụ cà phê mới là từ ngay sau Tết Nguyên đán, người trồng cà phê phải tưới nước ngay. Chi phí tưới nước vụ 2019 – 2020 này ước tăng hơn vụ trước là 20%, đây cũng là khoảng thời gian giá xăng dầu điều chỉnh tăng liên tiếp. Đến tháng 4/2019 thì giá điện tăng trong khi giá cà phê nhân lại liên tục sụt giảm, khiến người trồng cà phê thua lỗ không ít.

Về thương mại cà phê, ở thị trường nội, đến tuần đầu tháng 8/2018 giá cà phê nhân xô Robusta trong nước vẫn tiếp tục ở mức thấp theo giá thế giới. Nông dân trồng cà phê tại  các tỉnh Tây Nguyên đã bán cà phê ở mức thấp nhất là 32.700 đồng/kg tại các huyện Di Linh và Lâm Hà (tỉnh Lâm Đồng). Được giá nhất là ở mức 33.700 đồng/kg tại huyện Cư M’gar (tỉnh Đắk Lắk). Nhưng nguồn cung từ dự trữ của nông dân hiện đã cạn kiệt, mà mức giá này vẫn rất bèo bọt. Hiện các hoạt động giao dịch cà phê trong nước vẫn rất chậm, do nguồn cung và giá giảm thấp. Vicofa dự báo, giao dịch cà phê tại Việt Nam sẽ diễn ra ảm đạm cho đến niên vụ 2019/2020 bắt đầu vào tháng 10/2019.

Về xuất khẩu, trong 7 tháng/2019 kim ngạch xuất khẩu cà phê đã giảm đến 19,11% so cùng kỳ năm 2018. Ở các thị trường nhập khẩu lớn như, Đức chiếm 13,2% thị phần và Hoa Kỳ (Mỹ) chiếm 9,8%, nhưng trong 7 tháng/2019 xuất khẩu cà phê sang Đức giảm đến 13,6% về trị giá, mặc dù Việt Nam là thị trường cung cấp cà phê lớn thứ hai cho Đức. Và hiện tại, thị phần cà phê Việt Nam trong tổng lượng nhập khẩu cà phê của Đức đã giảm từ 25,2% 7 tháng/2018, xuống còn 22,2% trong 7 tháng/2019.

Cục Xuất nhập khẩu (Bộ Công thương) dự báo, thị trường cà phê toàn cầu trong thời gian tới sẽ vẫn gặp khó khăn do nguồn cung đang vượt nhu cầu. Bất chấp việc tiêu thụ cà phê thế giới được dự báo sẽ tăng 1,8% trong năm 2019, nhưng mức tăng này chưa đủ hỗ trợ tăng giá cà phê trên thị trường thế giới. Hay việc căng thẳng thương mại Mỹ và Trung Quốc đang leo thang, cũng gây bất lợi lên giá các mặt hàng nông sản trong thời gian tới, trong đó có mặt hàng cà phê.

Nguồn :

Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,50
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,90
6,90
VietinBank
0,10
0,50
0,50
0,50
4,50
4,50
5,00
5,5
5,50
6,80
6,80
Eximbank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
6,80
8,00
ACB
0,30
1,00
1,00
1,00
5,10
5,20
5,40
6,40
6,40
6,80
7,80
Sacombank
0,30
-
-
-
5,00
5,40
5,50
6,50
6,70
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,80
4,80
5,00
6,10
6,00
6,50
6,60
LienVietPostBank
0,30
1,00
1,00
1,00
5,00
5,00
5,10
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,50
5,50
5,50
7,10
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,80
6,80

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.145 23.265 25.504 26.349 27.824 28.270 214,53 224,49
BIDV 23.145 23.265 25.505 26.232 27.823 28.303 215,02 220,49
VietinBank 23.135 23.265 25.492 26.287 27.766 28.406 214,71 220,71
Agribank 23.145 23.250 25.490 25.882 27.825 28.291 214,99 218,94
Eximbank 23.140 23.250 25.508 25.861 27.918 28.304 215,89 218,87
ACB 23.135 23.255 25.521 25.873 27.998 28.312 215,99 218,96
Sacombank 23.103 23.263 25.518 25.977 27.950 28.352 215,12 219,68
Techcombank 23.135 23.275 25.282 26.280 27.611 28.505 214,47 221,74
LienVietPostBank 23.140 23.260 25.469 26.943 27.981 28.405 216,19 220,21
DongA Bank 23.230 23.320 25.980 26.220 28.070 29.350 214,60 220,60
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
41.100
41.470
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
41.100
41.450
Vàng SJC 5c
41.100
41.470
Vàng nhẫn 9999
41.100
41.600
Vàng nữ trang 9999
40.650
41.450