15:11 | 14/08/2019

Niềm tin tiền đồng trước “giông bão”

Huy động vốn của hệ thống ngân hàng tiếp tục tăng trưởng cao trong những tháng đầu năm 2019, mặc dù tiền gửi tiết kiệm ngân hàng bị rất nhiều kênh đầu tư tài chính cạnh tranh...

Tỷ giá vững vàng trong bão
Nâng cao vị thế tiền đồng, tạo niềm tin đối với nhà đầu tư
Ảnh minh họa

Sau chuỗi ngày tăng giá, giá vàng trong nước tuần qua có những thời điểm thiết lập mức 42 triệu đồng/lượng, tỷ giá VND/USD cũng có những ngày tăng lên do tác động của chiến tranh thương mại Mỹ - Trung. Theo các chuyên gia kinh tế, trên nguyên lý khi giá vàng và ngoại tệ tăng cao bao giờ cũng tác động vào thị trường tiền tệ do tâm lý người dân thường tìm đến mua những tài sản tài chính cất giữ để bảo toàn giá trị.

Thế nhưng, tỷ lệ tiền gửi tiết kiệm bằng tiền đồng Việt Nam trong các ngân hàng vẫn rất cao, số liệu thống kê của 17 ngân hàng niêm yết trên sàn chứng khoán trong 7 tháng đầu năm 2019 cho thấy, tốc độ huy động vốn có mức tăng trưởng trên 7% so với cuối năm 2018. Bên cạnh đó, báo cáo nhanh của NHNN chi nhánh TP.HCM cho biết, trong tuần đầu tiên của tháng 8/2019, tổng nguồn vốn huy động của 12 NHTM có hội sở trên địa bàn TP.HCM đạt trên 3.000 tỷ đồng, không giảm so với những tuần giá vàng chưa biến động.

Nếu so sánh với 5 năm trước, lãi suất huy động ngân hàng hiện không phải quá cao nhưng niềm tin của người gửi tiền vào hệ thống ngân hàng đang được nâng lên rất cao. Hiện nay, lãi suất tiết kiệm trong ngân hàng có thể tạm phân ra làm 3 mức: lãi suất kỳ hạn từ 1 tháng đến dưới 6 tháng vẫn bám sát trần lãi suất tiền gửi do NHNN quy định 5,5%/năm; đối với những kỳ hạn từ 6 tháng đến 12 tháng bình quân ở mức 6-7,2% ở các NHTM có vốn nhà nước chi phối, và ở các NHTMCP nhỏ là 7,3-7,8%/năm. Riêng các kỳ hạn 24 tháng và 60 tháng các NHTMCP nhỏ thường niêm yết cao hẳn lên, từ 8-8,6%/năm.

Tuy nhiên, các ngân hàng thường đưa ra mức lãi suất cao nhất trên 8%/năm để thu hút khách gửi tiền. Người hưởng được mức lãi suất tiết kiệm từ 8%/năm trở lên phải đi kèm với các điều kiện số tiền từ 500 triệu đồng trở lên và phải gửi kỳ hạn dài ít nhất là trên một năm…

Theo thống kê của NHNN chi nhánh TP.HCM, tổng nguồn vốn huy động VND của các TCTD trên địa bàn trong 6 tháng đầu năm 2019 có tỷ lệ tăng 7,9% so với cuối năm 2018 và dự ước đến cuối tháng 7/2019 tăng 8,66%; trong đó bộ phận tiền gửi tiết kiệm dân cư có tốc độ tăng trên 5% và chiếm 46,36% trên tổng nguồn vốn huy động của các TCTD trên địa bàn TP.HCM.

Các nhà quản lý tài chính tiền tệ, cho rằng việc tiền gửi tiết kiệm có tăng trưởng cao trong hệ thống ngân hàng cho thấy yếu tố vàng đã không còn cạnh tranh trực tiếp với lãi suất tiết kiệm ngân hàng. Bởi nếu như 5 năm trước mỗi khi giá vàng tăng thị trường ngoại tệ bật dậy, lãi suất tiết kiệm cũng không thể ổn định. Tuy nhiên, thị trường hiện nay đã rất khác so với thời điểm đó.

Thực tế đã chứng minh trong những ngày giá vàng tăng trong tuần qua, không ai dám bỏ tiền ra thị trường mua vàng với mức giá 42 triệu đồng/lượng để kỳ vọng giá tăng thêm bán chốt lời. Thậm chí, có ngày giá vàng tăng 2 triệu đồng/lượng nhưng thị trường vàng vẫn không có “sốt nóng”. Những người cầm tiền lúc này hiểu hơn ai hết, chênh lệch giá mua vào bán ra một lượng vàng đã đối mặt với lỗ lãi, chưa nói đến kỳ vọng giá vàng tăng thêm. Giới kinh doanh cho rằng, người dân đã nếm trải cay đắng qua các đợt giá vàng tăng từ hơn 5 năm trước nên hiện nay không còn chạy theo giá để tìm kiếm lợi nhuận nên thị trường vàng chủ yếu của giới đầu tư.

Giới chuyên gia kinh tế cho rằng, tiền đồng Việt Nam đã bị thử thách rất lớn từ đầu năm 2019 trong xu thế chiến tranh thương mại, các NHTW trên thế giới cắt giảm lãi suất, một số đồng tiền mạnh chủ động giảm giá… Tuy nhiên, đồng Việt Nam vẫn đứng vững trước giá vàng và giá USD trên thị trường ngoại tệ vẫn ổn định trước giông bão bên ngoài.

Nguồn :

Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,50
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,90
6,90
VietinBank
0,10
0,50
0,50
0,50
4,50
4,50
5,00
5,5
5,50
6,80
6,80
Eximbank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
6,80
8,00
ACB
0,30
1,00
1,00
1,00
5,10
5,20
5,40
6,40
6,40
6,80
7,80
Sacombank
0,30
-
-
-
5,00
5,40
5,50
6,50
6,70
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,80
4,80
5,00
6,10
6,00
6,50
6,60
LienVietPostBank
0,30
1,00
1,00
1,00
5,00
5,00
5,10
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,50
5,50
5,50
7,10
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,80
6,80

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.145 23.265 25.504 26.349 27.824 28.270 214,53 224,49
BIDV 23.145 23.265 25.505 26.232 27.823 28.303 215,02 220,49
VietinBank 23.135 23.265 25.492 26.287 27.766 28.406 214,71 220,71
Agribank 23.145 23.250 25.490 25.882 27.825 28.291 214,99 218,94
Eximbank 23.140 23.250 25.508 25.861 27.918 28.304 215,89 218,87
ACB 23.135 23.255 25.521 25.873 27.998 28.312 215,99 218,96
Sacombank 23.103 23.263 25.518 25.977 27.950 28.352 215,12 219,68
Techcombank 23.135 23.275 25.282 26.280 27.611 28.505 214,47 221,74
LienVietPostBank 23.140 23.260 25.469 26.943 27.981 28.405 216,19 220,21
DongA Bank 23.230 23.320 25.980 26.220 28.070 29.350 214,60 220,60
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
41.100
41.470
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
41.100
41.450
Vàng SJC 5c
41.100
41.470
Vàng nhẫn 9999
41.100
41.600
Vàng nữ trang 9999
40.650
41.450