09:06 | 03/04/2019

Phát triển thị trường vốn: “Chia lửa” cùng nguồn vốn tín dụng

Theo các chuyên gia kinh tế, sự phát triển mạnh mẽ của Việt Nam thời gian qua cho thấy mục tiêu đúng đắn của Chính phủ trong nỗ lực cân bằng các thị trường vốn trong thị trường tài chính để giảm bớt gánh nặng cho hệ thống tín dụng.

Thị trường vốn: Các ngân hàng đang phải chịu áp lực lớn
Tránh bị thao túng trên thị trường vốn

Cơ cấu vốn còn bất cập

Thứ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Lê Quang Mạnh cho biết, về tổng thể quá trình tái cơ cấu đầu tư của Việt Nam hướng đến sẽ làm giảm tỷ trọng đầu tư của khu vực Nhà nước. Theo kế hoạch 2016-2020 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, đến năm 2020, tỷ trọng này sẽ giảm xuống còn 31-34%.

Việc phát hành khối lượng lớn cổ phiếu cho NĐT trong nước là rất khó khả thi

“Trong bài toán tổng thể khi nguồn vốn từ khu vực công giảm sút như vậy, chúng ta vẫn duy trì được tổng đầu tư toàn xã hội tăng để đủ tăng trưởng hàng năm xấp xỉ 7% trong những năm qua là một minh chứng rất rõ ràng của thị trường vốn, đặc biệt là TTCK để huy động nguồn đầu tư từ các kênh và từ các nguồn kém hiệu quả hơn cho phát triển tăng trưởng của đất nước”, ông Mạnh cho hay.

Tuy vậy, theo đánh giá của NHNN, cơ cấu vốn cho nền kinh tế hiện có tỷ lệ tín dụng trên GDP trên 130% cho thấy hoạt động của các DN dựa rất lớn vào hệ thống ngân hàng. Với bản chất vốn ngân hàng là nguồn vốn ngắn hạn, hệ thống ngân hàng chịu rất nhiều áp lực để cung ứng vốn dài hạn, vì vậy các TCTD rất khó khăn trong việc cân đối vốn và sử dụng vốn vì phải làm thế nào để tránh được rủi ro kỳ hạn.

Điểm tích cực là thị trường trái phiếu DN năm 2018 đã có bước phát triển, khối lượng phát hành trái phiếu DN đưa vào giao dịch tăng khoảng 7% so với năm 2017. NHNN cho rằng, nếu việc phát hành trái phiếu DN, việc cổ phần hóa, thoái vốn DNNN tiến triển thì NHNN cũng sẽ giảm áp lực đối với việc cung ứng vốn trung dài hạn. Điều này rất thuận lợi cho sự phát triển của thị trường tài chính lành mạnh theo đúng nghĩa các TCTD cung ứng vốn ngắn hạn là chủ yếu.

Các kết quả của UBCKNN cho thấy, vốn hóa của thị trường cổ phiếu đã tăng gần 17 lần trong 12 năm qua, từ mức 22,7% GDP năm 2006 lên mức 72% GDP năm 2018. Huy động vốn của khối DN tư nhân thông qua phát hành cổ phiếu, trái phiếu DN tăng 70% trong năm 2017 và trên 30% năm 2018, đạt 86 nghìn tỷ đồng và đưa Việt Nam trở thành quốc gia có mức huy động vốn qua kênh chứng khoán thành công nhất Đông Nam Á.

Thông qua TTCK, Chính phủ cũng đã huy động vốn với kỳ hạn từ 20 đến 30 năm, chủ động tốt hơn nguồn vốn dài hạn cho đầu tư công và cơ cấu lại nợ công. TTCK Việt Nam trở thành bệ phóng thành công cho nhiều DN lớn, hỗ trợ tốt cho công tác cổ phần hóa DNNN. Quan trọng hơn là cùng với hệ thống tín dụng ngân hàng tạo ra một cơ cấu thị trường tài chính Việt Nam cân đối hơn, hiệu quả hơn, hỗ trợ tốt cho sự phát triển của nền kinh tế.

Để phát triển thị trường vốn, cân đối các nguồn lực và giảm bớt gánh nặng lên hệ thống ngân hàng, mới đây Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc khẳng định, phát triển TTCK nhằm tạo ra kênh huy động vốn trung và dài hạn trong phát triển kinh tế là một chủ trương lớn và nhất quán của Đảng và Nhà nước trong thời kỳ đổi mới. TTCK Việt Nam phải thực sự trở thành kênh huy động vốn quan trọng trong và ngoài nước cho nền kinh tế.

Minh bạch để thu hút dòng vốn ngoại

Để hiện thực hoá mục tiêu này, Thủ tướng đã yêu cầu các cơ quan liên quan hoàn thiện khuôn khổ pháp lý về chứng khoán và TTCK trong đó trọng tâm là sửa đổi Luật Chứng khoán để trình Quốc hội thông qua trong năm 2019. Bộ Tài chính phối hợp với các ngành, cơ quan có liên quan trình Chính phủ điều chỉnh các cơ chế chính sách và giải pháp thúc đẩy mạnh mẽ tiến trình cổ phần hóa và thoái vốn DNNN gắn với niêm yết trên TTCK để vừa thúc đẩy quy mô của thị trường, đẩy mạnh tính công khai minh bạch và nâng cao năng lực quản trị DNNN.

Đồng thời phối hợp với các bộ, ngành liên quan triển khai các giải pháp nâng hạng TTCK Việt Nam từ hạng thị trường cận biên lên hạng thị trường mới nổi để thu hút các dòng vốn nước ngoài…

Theo tính toán của các chuyên gia, nếu thị trường Việt Nam được nâng hạng thì sẽ có chỉ số FTSE Vietnam Index, chỉ số này sẽ nằm trong hệ thống của chỉ số FTSE Emerging Markets Index và tất nhiên các quỹ ETF dù muốn hay không cũng sẽ phải phân bổ vốn vào cho thị trường nước ta. Nếu ước tính tổng số vốn mà các ETF đưa thị trường mới nổi thứ cấp vào khoảng 6,1 tỷ USD và tỷ trọng của FTSE Vietnam Index vào khoảng 0,3%, thì số vốn mà các ETF có thể đổ vào TTCK Việt Nam gần 200 triệu USD.

Song đây cũng là con số tương đối, bởi trước khi thị trường nước ta được nâng hạng cũng đã có những dòng vốn đón sóng nâng hạng; hay kể cả sau khi được nâng hạng, dòng vốn đổ vào đẩy vốn hóa tăng lên, tỷ trọng so với chỉ số chung cũng tăng, khiến cho vốn có thể đổ vào nhiều lần và gia tăng, nên con số chắc chắn không chỉ là 200 triệu USD. Lúc đó, thương hiệu của TTCK Việt Nam sẽ được củng cố, thu hút thêm nhiều dòng vốn cả ngắn lẫn dài hạn.

Bà Nguyễn Thị Kim Oanh - Phó Tổng giám đốc NHTMCP Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank) cho biết, tiềm năng của TTCK Việt Nam hiện nay rất lớn, tuy nhiên quan ngại của các NĐT nước ngoài là làm sao minh bạch được thông tin để họ có đầy đủ thông tin nhất trước khi ra quyết định đầu tư của mình.

Muốn vậy, Bộ Tài chính, UBCKNN cần tiếp tục nghiên cứu để đưa ra các yêu cầu chặt chẽ và minh bạch hơn về chuẩn mực kế toán của các DN, đặc biệt là các yêu cầu về kiểm toán đối với các DN. Các công ty kiểm toán phải chịu trách nhiệm đối với báo cáo kiểm toán được công bố để NĐT yên tâm…

Đồng thời, các cơ quan cần xem xét tăng trần sở hữu nước ngoài tại các NHTM vì xét trong điều kiện hiện nay của TTCK Việt Nam, việc phát hành khối lượng lớn cổ phiếu cho NĐT trong nước là rất khó khả thi.

Ông Dominic Scriven - Chủ tịch Dragon Capital thì cho biết, Việt Nam cần nâng room ngoại tại các ngân hàng từ 30% lên 49% nhằm tăng thu hút vốn ngoại khi các ngân hàng đang nỗ lực tăng vốn đáp ứng tiêu chuẩn Basel II...

Nguồn :

Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,50
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,90
6,90
VietinBank
0,10
0,50
0,50
0,50
4,50
4,50
5,00
5,5
5,50
6,80
6,80
Eximbank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
6,80
8,00
ACB
0,30
1,00
1,00
1,00
5,10
5,20
5,40
6,40
6,40
6,80
7,80
Sacombank
0,30
-
-
-
5,00
5,40
5,50
6,50
6,70
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,80
4,80
5,00
6,10
6,00
6,50
6,60
LienVietPostBank
0,30
1,00
1,00
1,00
5,00
5,00
5,10
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,50
5,50
5,50
7,10
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,80
6,80

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.135 23.285 25.473 26.348 28.617 29.106 203,30 216,50
BIDV 23.155 23.275 25.513 26.400 28.584 29.252 209,89 217,78
VietinBank 23.148 23.278 25.485 26.280 28.582 29.222 212,55 218,55
Agribank 23.135 23.240 25.309 25.700 28.281 28.751 212,04 215,91
Eximbank 23.160 23.270 25.514 25.867 28.755 29.152 213,85 216,80
ACB 23.150 23.270 25.507 25.858 28.817 29.141 213,66 216,61
Sacombank 23.112 23.272 25.510 25.969 28.769 29.180 213,10 217,66
Techcombank 23.151 23.291 25.272 26.267 28.413 29.318 212,33 219,55
LienVietPostBank 23.145 23.265 25.436 25.911 28.778 29.207 212,44 217,42
DongA Bank 23.170 23.260 25.510 25.820 28.740 29.110 210,50 216,30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
41.550
41.870
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
41.550
41.850
Vàng SJC 5c
41.550
41.870
Vàng nhẫn 9999
41.530
41.980
Vàng nữ trang 9999
41.050
41.850