16:00 | 16/04/2018

Tránh bị thao túng trên thị trường vốn

Làn sóng đầu tư trực tiếp và gián tiếp nước ngoài tiếp tục đổ vào Việt Nam trong những tháng đầu năm 2018. Tuy nhiên các chuyên gia kinh tế đã bắt đầu cảnh báo về các tác động của dòng vốn ngoại lên các cân đối vĩ mô

Tạo lực đẩy cho thị trường vốn 2018
Để thị trường vốn không phát triển lệch
Sức ép lên thị trường vốn

Trong kết quả tăng trưởng kinh tế quý I/2018 đạt 7,38% có các đóng góp rất lớn từ xuất khẩu linh kiện điện tử của khu vực DN có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) như Samsung, LG… Việc một nền kinh tế phụ thuộc quá lớn vào khối ngoại sẽ tiềm ẩn những rủi ro đã được nhiều nhà kinh tế cảnh báo từ những năm trước đây, nhưng tình hình đến nay vẫn chưa có sự cải thiện.

DN Việt phải chuẩn bị thật tốt về vốn để tránh bị thao túng và hạn chế những rủi ro có thể xảy ra

Một yếu tố khác đáng chú ý theo TS. Trần Du Lịch, thành viên Tổ tư vấn kinh tế của Thủ tướng Chính phủ, trong 3 tháng đầu năm 2018, tổng lượng vốn đầu tư gián tiếp (FII) nước ngoài đổ vào Việt Nam đã lên đến hơn 37 tỷ USD. Con số này về mặt nào đó là tích cực, nhưng nó cũng có thể gây nguy hại cho nền kinh tế, khi dự trữ ngoại hối quốc gia mới ở mức 60 tỷ USD.

TS. Nguyễn Trí Hiếu cho rằng, sự rung lắc của thị trường chứng khoán thế giới và Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) vẫn tăng lãi suất thêm nữa, giá trị đồng đô-la sẽ tăng lên, các nhà đầu tư có thể rút khỏi thị trường mới nổi và trở lại thị trường truyền thống, những quốc gia nhận nhiều vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài có thể phải đối diện với một lượng vốn ngoại chảy ra ngoài. Thị trường ngoại tệ sẽ cần một lượng vốn lớn để đáp ứng cho nhà đầu tư chuyển đổi đồng tiền, rút khỏi thị trường, từ đó sẽ tác động không nhỏ vào dự trữ ngoại hối quốc gia.

Dự luật cải cách thuế của Mỹ được thông qua vào tháng 12 năm ngoái sẽ tác động tới khoảng 50% dòng vốn FDI trên toàn cầu, dịch chuyển 2.000 tỷ USD của các công ty Mỹ đang nằm ở các quốc gia quay trở lại Mỹ, theo số liệu của UNCTAD. Thêm vào đó là nguy cơ chiến tranh thương mại Mỹ - Trung là điều các quốc gia lân cận với Trung Quốc phải có tính toán và chuẩn bị.

Thực tế, nhiều công ty trong nước niêm yết trên sàn chứng khoán thời gian qua cũng thu hút được một lượng vốn FII rất lớn. Kết thúc năm 2017, tổng lượng mua ròng của nhà đầu tư nước ngoài vào TTCK đã đạt khoảng 1,7 tỷ USD, trong đó, 1 tỷ USD là vào cổ phiếu và 700 triệu USD là vào trái phiếu. Theo thống kê của Sở Giao dịch chứng khoán TP.HCM (HoSE), trong khoảng gần 2 tháng đầu năm 2018, khối ngoại mua ròng trên sàn HoSE là 10.210 tỷ đồng, nếu không tính phần giao dịch thỏa thuận của Vincom Retail thì nước ngoài mua ròng 5.710 tỷ đồng - tương đương 250 triệu USD. Các chuyên gia dự báo, năm nay con số mua ròng của khối ngoại sẽ đạt khoảng 2,5 - 3 tỷ USD.

Song, cũng có khá nhiều ý kiến phản biện cho rằng những điều trên khó có thể xảy ra trong ngắn hạn và không thể phủ nhận các luồng vốn ngoại đã có những đóng góp rất tích cực cho Việt Nam. Ông Nguyễn Đức Hùng Linh, Giám đốc Phân tích và Tư vấn đầu tư khách hàng cá nhân của SSI, cho rằng, từ đầu năm 2018 đến nay, TTCK thế giới liên tục vấp ngã, nhưng vốn ngoại vẫn đang ủng hộ chứng khoán Việt Nam thông qua tần suất bơm vốn dày đặc. Đặc biệt, đáng chú ý là các hoạt động đầu tư trực tiếp và gián tiếp vào các lĩnh vực tài chính - ngân hàng, logistics, bán lẻ… cũng như các thương vụ M&A đang ngày càng gia tăng, thể hiện vốn ngoại muốn trụ lại lâu dài ở Việt Nam.

Ông Phạm Hồng Hải, Tổng giám đốc HSBC cho rằng, thị trường vốn Việt Nam hiện khá an toàn. Các khoản nợ của Chính phủ chủ yếu là món vay với lãi suất ưu đãi, kỳ hạn dài 20-30 năm. Theo đó, trong vòng 10-20 năm tới chưa bị áp lực phải trả nợ gốc. Trong khi đó, ông Hải nhìn nhận, các nhà đầu tư ngoại thường đặt mục tiêu kinh doanh dài hạn. Bên cạnh đó, tỷ lệ nhà đầu tư nước ngoài đầu tư trái phiếu Chính phủ Việt Nam hiện không lớn, nên sẽ không lặp lại tình trạng của năm 2008 khi các quỹ đầu tư bán trái phiếu ra để rút USD về nước sở tại.

Phân tích vào so sánh giữa tỷ lệ dự trữ ngoại hối trên tuần nhập khẩu, ông Hải cho rằng nếu loại trừ hình thức nhập khẩu nguyên liệu vào gia công hàng hóa xuất khẩu thì tỷ lệ này ở mức cao chứ không phải thấp. Ông cũng dự báo, trong một hai năm tới, để Việt Nam trở thành đích đến của các quỹ đầu tư thì ngay từ bây giờ, hệ thống DN và ngân hàng Việt Nam phải có chuẩn bị thật tốt về vốn để tránh bị thao túng và hạn chế những rủi ro có thể xảy ra.

Nguồn :

Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,10
4,10
4,60
5,10
5,30
6,40
6,50
BIDV
0,20
-
-
-
4,10
4,10
4,80
5,30
5,50
6,90
6,90
VietinBank
0,20
0,50
0,50
0,50
4,30
4,30
4,80
5,30
5,50
6,80
6,90
Eximbank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
6,20
8,00
ACB
0,30
1,00
1,00
1,00
5,10
5,20
5,30
5,90
5,90
6,70
6,50
Sacombank
0,30
-
-
-
4,70
5,40
5,50
6,20
6,40
6,90
7,30
Techcombank
-
0,50
0,50
0,50
4,80
4,80
4,90
6,00
6,10
6,70
6,70
LienVietPostBank
0,60
1,00
1,00
1,00
5,00
4,50
5,20
6,20
5,70
7,10
7,20
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,50
5,50
5,50
7,00
7,20
7,20
7,60
Agribank
0,30
-
-
-
4,10
4,10
4,80
5,30
5,50
6,70
6,70

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 22.735 22.805 27.564 27.893 31.343 31.845 206,32 210,25
BIDV 22.735 22.805 27.598 27.918 31.399 31.865 207,09 210,15
VietinBank 22.723 22.803 27.505 27.883 32.311 31.871 206,79 210,19
Agribank 22.735 22.810 27.728 28.057 31.586 32.020 208,88 212,15
Eximbank 22.720 22.810 27.581 27.940 31.490 31.900 207,77 210,47
ACB 22.740 22.810 27.562 27.908 31.552 31.868 207,67 210,28
Sacombank 22.735 22.817 27.606 27.961 31.548 31.903 207,67 210,71
Techcombank 22.710 22.805 27.315 28.043 31.124 31.976 206,21 211,70
LienVietPostBank 22.720 22.820 27.527 27.988 31.521 31.945 207,37 211,00
DongA Bank 22.740 22.810 27.610 27.920 31.500 31.880 206,30 210,30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
36.550
36.770
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
36.550
36.750
Vàng SJC 5c
36.550
36.770
Vàng nhẫn 9999
36.600
37.000
Vàng nữ trang 9999
36.200
36.800