11:16 | 16/04/2019

Thống đốc NHTW Nhật Bản: Kinh tế Trung Quốc có thể phục hồi vào cuối năm nay

Thống đốc NHTW Nhật Bản Haruhiko Kuroda cho biết nền kinh tế Trung Quốc có khả năng phục hồi trong nửa cuối năm 2019, ông nói với CNBC trong một cuộc phóng vấn phát đi hôm thứ Hai, đồng thời nhấn mạnh đến vai trò của các biện pháp kích thích tài khóa khổng lồ của Trung Quốc đối với sự phục hồi của nền kinh tế lớn thứ 2 thế giới.

Thống đốc NHTW Nhật Bản Haruhiko Kuroda

Tuy nhiên, triển vọng kinh tế toàn cầu không được sáng sủa như vậy. Theo ông Haruhiko Kuroda, bảo hộ thương mại ngày càng gia tăng trên toàn cầu là mối đe dọa lớn nhất đối với tăng trưởng kinh tế thế giới.

“Có một số hành động bảo hộ thương mai đang diễn ra trong quan hệ thương mại trên thế giới”, Kuroda nói. “Tôi nghĩ đó là rủi ro nghiêm trọng nhất liên quan đến nền kinh tế toàn cầu”.

Bình luận của Kuroda, được đưa ra khi Trung Quốc và Mỹ cố gắng đạt được một thỏa thuận thương mại nhằm chấm dứt một cuộc chiến thuế quan đang diễn ra.

Phía Trung Quốc đã đưa ra các đề xuất chưa từng có liên quan đến quy định chuyển giao công nghệ bắt buộc hiện đang áp dụng - một điểm nhấn mới của đàm phán song phương, theo Reuters đã đưa tin trước đó.

Bộ trưởng Tài chính Mỹ Steven Mnuchin cũng cho biết hôm Chủ nhật rằng Mỹ sẵn sàng áp dụng các hình phạt nếu đối phương không tuân thủ thỏa thuận thương mại đã được thống nhất giữa hai bên.

Mnuchin cũng cho biết hôm thứ Hai, rằng hai bên vẫn còn rất nhiều việc phải làm trước họ. Tuy nhiên, có vẻ như một thỏa thuận đã được hình thành về cơ bản.

Nhưng, đến lúc này các nhà đầu tư vẫn tỏ ra lo lắng về khả năng cuộc chiến thương mại có thể tiếp tục kéo dài, theo đó nó sẽ ảnh hưởng đáng kể đến lợi nhuận các công ty trong tương lai.

Quỹ tiền tệ quốc tế cũng cắt giảm dự báo tăng trưởng kinh tế năm 2019 xuống còn 3,3%, từ mức 3,5%, với thương mại nằm trong số các rủi ro được dẫn ra như một nguyên nhân chủ yếu của việc thay đổi mức dự báo.

“Trong kịch bản chính mà IMF dự báo sẽ xảy ra với kinh tế thế giới, tổ chức này cho rằng cuộc xung đột thương mại giữa Mỹ và Trung Quốc sẽ không trở nên tồi tệ hơn”, ông Haruhiko Kuroda nói. “Nếu xấu đi, nó có thể dẫn đến một triển vọng khác cho nền kinh tế toàn cầu”.

Cổ phiếu toàn cầu gần đây đã tăng trở lại, với chỉ số iShares MSCI ACWI ETF tăng hơn 15% từ đầu năm 2019.

Biến động chỉ số iShares MSCI ACWI ETF

Nhận được nhiều lợi ích từ tiến trình cải thiện sự hiểu biết lẫn nhau trong các cuộc đàm phán thương mại Mỹ-Trung, đồng thời nhiều cổ phiếu cũng hưởng lợi từ sự xoay trục chính sách tiền tệ thắt chặt sang nới lỏng hơn của các NHTW lớn.

Ông Kuroda cho biết vẫn còn dư địa cho việc nới lỏng chính sách tiền tệ của các NHTW, nhưng ông cũng thêm rằng chính sách nới lỏng là không cần thiết để áp dụng ngay tại thời điểm này.

Nguồn :

Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,50
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,90
6,90
VietinBank
0,10
0,50
0,50
0,50
4,50
4,50
5,00
5,5
5,50
6,80
6,80
Eximbank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
6,80
8,00
ACB
0,30
1,00
1,00
1,00
5,10
5,20
5,40
6,40
6,40
6,80
7,80
Sacombank
0,30
-
-
-
5,00
5,40
5,50
6,50
6,70
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,80
4,80
5,00
6,10
6,00
6,50
6,60
LienVietPostBank
0,30
1,00
1,00
1,00
5,00
5,00
5,10
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,50
5,50
5,50
7,10
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,80
6,80

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.145 23.265 25.481 26.325 28.081 28.531 210,40 218,69
BIDV 23.145 23.265 25.491 26.225 28.091 28.569 215,20 220,68
VietinBank 23.126 23.256 25.452 26.247 27.997 28.637 214,75 220,75
Agribank 23.145 23.250 25.490 25.882 27.825 28.291 214,99 218,94
Eximbank 23.140 23.250 25.495 25.847 28.173 28.563 216,11 219,10
ACB 23.130 23.250 25.487 25.838 28.243 28.560 215,98 218,96
Sacombank 23.097 23.257 25.488 25.941 28.191 28.593 215,13 219,69
Techcombank 23.130 23.270 25.252 26.246 27.856 28.756 214,41 221,68
LienVietPostBank 23.130 23.250 25.433 26.960 28.204 28.623 215,60 219,60
DongA Bank 23.160 23.250 25.510 25.830 28.170 28.540 212,60 218,50
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
41.400
41.720
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
41.400
41.700
Vàng SJC 5c
41.400
41.720
Vàng nhẫn 9999
41.350
41.850
Vàng nữ trang 9999
41.000
41.700