14:25 | 09/07/2018

TP.HCM: Chuẩn bị bước đột phá cho công nghiệp trọng điểm

Mặc dù tổng sản phẩm địa phương (GRDP) 6 tháng đầu năm ước đạt gần 586.000 tỷ đồng, tăng 7,86% (cùng kỳ năm ngoái tăng 7,76%), tuy nhiên chỉ số sản xuất công nghiệp của TP.HCM đang có dấu hiệu giảm tốc hẳn khi chỉ còn tăng 7,11% so với cùng kỳ năm trước, thấp hơn mức 7,51% của 6 tháng năm 2017.

Đánh giá quá trình phát triển của ngành công nghiệp thành phố, ông Nguyễn Thành Phong, Chủ tịch UBND TP.HCM nhận định thời gian vừa qua ngành công nghiệp chủ lực của TP.HCM không có điểm nhấn và đột phá, chính vì vậy để tăng trưởng cần có sự đột phá của 4 ngành công nghiệp chủ lực. Đặc biệt, ngành sản xuất xe có động cơ giảm 14,32% (trong khi cùng kỳ tăng 46,65%). Đây chính là ngành đã kéo giảm tốc độ tăng của sản xuất công nghiệp toàn ngành trong 6 tháng đầu năm 2018.

Cần hỗ trợ tốt hơn nữa một số DN lớn trở thành DN đầu - cuối đủ mạnh, đủ sức tạo ra hệ sinh thái 

Nguyên nhân chủ yếu khiến sản xuất công nghiệp của TP.HCM 6 tháng đầu năm 2018 không thể duy trì được đà tăng mạnh mẽ của cùng kỳ năm trước, theo các chuyên gia, là do các DN đã “bung sức” đầu tư rất mạnh để “đón đầu” các FTA trong năm 2017. Hơn thế, nhiều DN cũng ồ ạt tăng cường sản xuất tránh thời điểm thuế tiêu thụ đặc biệt một số mặt hàng sản xuất trong nước tăng lên, hoặc các quy định mới về sản xuất công nghiệp có hiệu lực trong năm 2018.

Điều này thể hiện qua việc các DN sản xuất ô tô trong nước trì hoãn sản xuất để thăm dò nhu cầu thị trường khiến tăng trưởng của nhóm sản xuất xe có động cơ giảm tới 14,32% do Việt Nam bắt đầu áp dụng tiêu chuẩn khí thải Euro 4 từ đầu năm 2018. Hơn thế, năm 2018 cũng là năm đầu tiên ô tô nhập khẩu nguyên chiếc từ ASEAN vào Việt Nam chỉ còn 0%.

Bên cạnh đó, các ngành công nghiệp chủ lực của TP.HCM cũng bị ảnh hưởng bởi khó khăn từ nguồn nhân lực vì hầu như công nhân và kỹ sư lành nghề lần lượt bị “hút” về phía các DN có vốn đầu tư nước ngoài (FDI). Hiện nay, giữa DN trong nước và DN FDI chưa thật sự kết nối thành một chuỗi giá trị.

Theo đó, sản phẩm DN trong nước sản xuất dù được đánh giá tốt, nhưng chưa thể đáp ứng nhu cầu lớn của nhóm FDI do đa số DN trong nước chỉ mới ở quy mô vừa và nhỏ. Dù được hỗ trợ cho vay kích cầu lãi suất thấp nhưng các DNNVV này lại không dám nâng cấp công nghệ và nhà xuởng vì ngại thay đổi và không dám.

“Đây cũng chính là nỗi lo đằng sau những thành tựu thu hút được nhiều FDI sử dụng công nghệ cao. Bởi vì DN FDI thiếu vệ tinh cung ứng thì họ không thể bám rễ được”, ông Phạm Thành Kiên - Giám đốc Sở Công thương TP.HCM nhận định.

Để tạo ra động lực chung ngành công nghiệp của thành phố, thay vì cứ đầu tư dàn trải như trước nay, thành phố cần phải hỗ trợ tốt hơn nữa một số DN lớn để trở thành DN đầu - cuối đủ mạnh, đủ sức tạo ra hệ sinh thái thu hút các DN vừa và nhỏ tham gia vào chuỗi giá trị sản xuất.

Cụ thể, cần nhất là tập trung hỗ trợ DN cơ khí lớn đang chỉ chiếm 1,4% trong tổng số 18.000 DN ngành này thay vì phải hỗ trợ đầu tư dàn trải cho cả 18.000 DN. Cũng vậy, việc các DN nằm rải rác khắp nơi cũng lại là điểm khó khác để tạo nên sức mạnh tổng thể cho hệ sinh thái các DN sản xuất sản phẩm phụ trợ. Cho nên thành phố cần quy hoạch những khu nhà xưởng tập trung chỉ chuyên dành cho các DN công nghiệp hỗ trợ tại những địa bàn xung quanh các DN lớn trong ngành này.

Theo các chuyên gia kinh tế, trong 6 tháng cuối năm 2018, TP.HCM cần triển khai đồng bộ các chương trình thúc đẩy DN sản xuất, cung ứng phụ trợ, dịch vụ hỗ trợ cho lĩnh vực ưu tiên. Theo đó, TP.HCM cần thực hiện các chương trình phát triển hạ tầng phục vụ sản xuất, dịch vụ hỗ trợ cho cung ứng, sản xuất, phân phối sản phẩm.

Các cơ quan hữu quan của TP.HCM cũng phải tạo cơ chế thúc đẩy nghiên cứu phát triển công nghệ, sáng tạo ra kênh huy động vốn cho DN. Đồng thời, lãnh đạo TP.HCM cũng phải tích cực triển khai các chương trình hỗ trợ DN như cung cấp thông tin về hội nhập, thị trường, đào tạo nhân lực, mặt bằng sản xuất...

Nguồn :

Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,10
4,10
4,60
5,10
5,50
6,40
6,50
BIDV
0,10
-
-
-
4,10
4,10
4,60
5,10
5,50
6,90
6,90
VietinBank
0,10
0,50
0,50
0,50
4,10
4,10
4,60
5,10
5,50
6,80
6,80
Eximbank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
6,80
8,00
ACB
0,30
1,00
1,00
1,00
5,00
5,20
5,30
5,90
5,90
6,70
6,70
Sacombank
0,30
-
-
-
4,70
5,40
5,50
6,20
6,40
6,90
7,30
Techcombank
-
0,50
0,50
0,50
4,50
4,50
4,60
5,50
5,50
6,40
6,40
LienVietPostBank
0,60
1,00
1,00
1,00
4,00
4,50
4,60
5,10
5,50
6,70
7,20
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,50
5,50
5,50
7,00
7,20
7,20
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,10
4,10
4,60
5,10
5,50
6,70
6,70

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.010 23.080 26.721 27.040 30.150 30.633 201,26 206,54
BIDV 23.015 23.085 26.748 27.057 29.191 30.639 202,78 205,77
VietinBank 23.006 23.086 26.687 27.065 30.136 30.696 202,56 205,96
Agribank 23.005 23.085 26.723 27.058 30.199 30.635 202,63 205,84
Eximbank 23.000 23.090 26.724 27.071 29.267 30.660 203,28 205,91
ACB 23.020 23.100 26.744 27.090 30.378 30.694 203,50 206,13
Sacombank 23.009 23.102 26.778 27.134 30.351 30.714 203,38 206,44
Techcombank 22.990 23.090 26.483 27.196 29.938 30.765 201,97 207,16
LienVietPostBank 23.000 23.100 26.674 27.140 30.313 30.736 202,98 206,64
DongA Bank 23.020 23.090 26.750 27.060 30.280 30.640 202,00 205,90
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
36.810
37.010
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
36.810
36.990
Vàng SJC 5c
36.810
37.010
Vàng nhẫn 9999
35.210
35.610
Vàng nữ trang 9999
34.860
35.560