09:25 | 29/08/2019

Từ 2% đến… miễn phí

Dù không rầm rộ, nhưng rõ ràng ngành quản lý quỹ đã và đang có những bước chuyển mình cực kỳ quan trọng để nhắm tới việc chuyên môn hóa, thực dụng và hiệu quả hơn để tối ưu hóa lợi ích cho nhà đầu tư.

Quản lý quỹ: Thách thức chinh phục dòng vốn ngoại
Tại sao ngành Quản lý quỹ còn chậm phát triển?

Từ chỗ chiếm 2% giá trị tài sản ròng (NAV) một thập kỷ trở về trước, phí quản lý quỹ đã dần hạ xuống mức 1%, rồi dưới 1% và hiện nay thậm chí còn… bằng 0.

10 năm là một chu kỳ lớn và sự thay đổi của phí quản lý quỹ chính là hệ quả của những chuyển động liên tục trong lĩnh vực này thời gian vừa qua. Cách đây chục năm, người ta phải ghi nhận sự suy thoái của mô hình quỹ đóng, ngoài vấn đề hiệu quả đầu tư, còn bộc lộ nhiều rủi ro về minh bạch thông tin cũng như khả năng thu hồi vốn của nhà đầu tư. Nếu quỹ đóng niêm yết chứng chỉ quỹ trên sàn, nhà đầu tư sẽ có cơ hội thu hồi bằng cách bán chứng chỉ cho nhà đầu tư khác, còn trong trường hợp không niêm yết thì việc chuyển nhượng sẽ rất khó. Hoạt động không phải lúc nào cũng hiệu quả, khó lấy lại vốn, tính minh bạch bị đặt dấu hỏi nhưng phí vẫn cứ cố định khoảng 2%/NAV… những điều này đã dẫn đến sự ra đời của mô hình quỹ mở để giải quyết các nhu cầu cho nhà đầu tư.

Ngành quản lý quỹ đã và đang có những bước chuyển mình cực kỳ quan trọng

Nổi bật nhất chính là việc nếu “chán”, nhà đầu tư có thể bán ngay lại chứng chỉ quỹ của mình cho quỹ để thu tiền về. Điều đó buộc các quỹ phải hoạt động sao cho hiệu quả để giữ chân nhà đầu tư. Bởi lẽ, khi bị rút tiền, dù có chuẩn bị thì quỹ vẫn sẽ bị ảnh hưởng, giảm quy mô và tác động đến hoạt động đầu tư sau này. Thêm một điểm nữa là phí quản lý quỹ mở từ khi xuất hiện đến nay cũng chỉ dao động quanh mốc 1%/NAV, tức là bằng phân nửa so với quỹ đóng trước đây. Phí thấp cũng là lợi thế để quỹ mở kéo được thêm nhiều nguồn tiền bỏ vào và khi quy mô tài sản của quỹ tăng thì hoạt động đầu tư cũng sẽ thuận lợi hơn. Tuy nhiên, mức 1% cũng chỉ mang tính chất tương đối khi các công ty quản lý quỹ để giữ chân, hoặc thu hút khách hàng mới vẫn có thể tiếp tục hạ phí xuống dưới mức này.

Sự phát triển của công nghệ khiến nhiều ngành nghề, không loại trừ ngành quản lý quỹ, có thể phải cắt giảm nhân sự một cách mạnh mẽ và áp dụng một số hệ thống máy móc tiên tiến để vận hành, dẫn đến có thể cắt giảm chi phí. Mặt khác, một số công ty quản lý quỹ cũng chuyên biệt hóa hoạt động, chẳng hạn như lĩnh vực quản lý tài sản cho người giàu (wealth management) rất phát triển trong thời gian gần đây nên cũng nỗ lực giảm phí để hút khách. Và khi phí quản lý liên tục giảm như vậy, các công ty quản lý quỹ sẽ chỉ ấn định như một khoản để bù đắp các loại chi phí cố định, hay để vận hành, trả lương, còn việc tạo ra thu nhập cho các nhà quản lý quỹ sẽ phải theo một cách khác. 

Hiện nay đang khá phổ biến là hình thức hợp tác giữa nhà đầu tư và công ty quản lý quỹ dựa trên kết quả hoạt động (performance) và phí chỉ là phụ. Theo đó, giữa nhà đầu tư và công ty quản lý quỹ sẽ có thỏa thuận ăn chia dựa trên phần lợi nhuận tạo ra và phí quản lý sẽ ở mức rất thấp, thậm chí không có. Nguồn tiền bỏ vào càng lớn, nhà đầu tư càng có lợi thế trong việc đàm phán phí quản lý và tỷ lệ ăn chia. Như vậy, mặc dù công ty quản lý quỹ công bố con số cố định về phí quản lý, nhưng số này cũng chỉ là mức tượng trưng, hiện giờ mức phí giữa khách hàng và quỹ là rất linh hoạt. Cách thức hợp tác này đã và đang buộc các công ty quản lý quỹ phải đi vào thực chất hơn trong hoạt động khi tìm mọi cách để sinh lời cho khách hàng và tạo ra cả thu nhập cho mình. Lợi thế ở đây là thu nhập cho cả đôi bên có thể tăng nhanh chóng, chưa kể nếu có kết quả tốt, quỹ còn kêu được nhiều nguồn vốn hơn trong ngắn hạn.

Nhưng một số quỹ đã và đang gặp những áp lực không nhỏ vì các nhà đầu tư, đặc biệt là nhà đầu tư lớn đã yêu cầu hạ phí, hoặc sẽ chuyển tiền sang quỹ khác. Việc phải thay đổi chi phí cố định trong khoảng thời gian ngắn là không đơn giản, trong khi yêu cầu và áp lực sinh lời ngày một lớn. Dù không rầm rộ, nhưng rõ ràng ngành quản lý quỹ đã và đang có những bước chuyển mình cực kỳ quan trọng để nhắm tới việc chuyên môn hóa, thực dụng và hiệu quả hơn để tối ưu hóa lợi ích cho nhà đầu tư.

Nguồn :

Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,50
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,90
6,90
VietinBank
0,10
0,50
0,50
0,50
4,50
4,50
5,00
5,5
5,50
6,80
6,80
Eximbank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
6,80
8,00
ACB
0,30
1,00
1,00
1,00
5,10
5,20
5,40
6,40
6,40
6,80
7,80
Sacombank
0,30
-
-
-
5,00
5,40
5,50
6,50
6,70
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,80
4,80
5,00
6,10
6,00
6,50
6,60
LienVietPostBank
0,30
1,00
1,00
1,00
5,00
5,00
5,10
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,50
5,50
5,50
7,10
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,80
6,80

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.135 23.285 25.473 26.348 28.617 29.106 203,30 216,50
BIDV 23.155 23.275 25.513 26.400 28.584 29.252 209,89 217,78
VietinBank 23.148 23.278 25.485 26.280 28.582 29.222 212,55 218,55
Agribank 23.135 23.240 25.309 25.700 28.281 28.751 212,04 215,91
Eximbank 23.160 23.270 25.514 25.867 28.755 29.152 213,85 216,80
ACB 23.150 23.270 25.507 25.858 28.817 29.141 213,66 216,61
Sacombank 23.112 23.272 25.510 25.969 28.769 29.180 213,10 217,66
Techcombank 23.151 23.291 25.272 26.267 28.413 29.318 212,33 219,55
LienVietPostBank 23.145 23.265 25.436 25.911 28.778 29.207 212,44 217,42
DongA Bank 23.170 23.260 25.510 25.820 28.740 29.110 210,50 216,30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
41.500
41.870
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
41.500
41.850
Vàng SJC 5c
41.500
41.870
Vàng nhẫn 9999
41.480
41.980
Vàng nữ trang 9999
41.050
41.850