Áp lực thắt chặt chính sách gia tăng tại ASEAN

07:55 | 17/06/2022

Trong vòng một năm vừa qua, vấn đề lạm phát ở khu vực ASEAN có vẻ yên ắng so với các nơi khác trên thế giới. Tuy nhiên tới nay tình hình đã đổi khác, áp lực giá đã tăng lên đáng kể ở một số thị trường, đáng lưu ý là Thái Lan, Philippines và Singapore. Ở các nước khác, trong vài tháng tới, CPI cũng sẽ tăng lên.

Năng lượng là nguyên nhân chính

Đây là nhận định được các chuyên gia thuộc Bộ phận Nghiên cứu Toàn cầu của HSBC trong báo cáo đánh giá tình hình lạm phát tại Việt Nam và các nước khác trong ASEAN. Theo đó, rủi ro lạm phát tại khu vực đã có chiều hướng tăng từ đầu năm 2022 khiến cả lạm phát cơ bản lẫn toàn phần đều tăng cao hơn so với mức trước đại dịch. Mặc dù vậy, tác động ở mỗi nước một khác. Cụ thể, áp lực lạm phát với Singapore, Thái Lan và Philippines có phần nặng nề hơn trong khi ở Việt Nam, Malaysia và Indonesia thì lạm phát vẫn tương đối trong tầm kiểm soát. Tuy nhiên, lạm phát toàn phần nhiều khả năng sẽ sớm tăng mạnh, nhất là trong bối cảnh giá năng lượng tăng lên.

Ngoại trừ Malaysia và Indonesia (xét về khí đốt tự nhiên và than đá), các nền kinh tế còn lại đều là những quốc gia nhập khẩu ròng năng lượng. Cả Philippines và Thái Lan đều đặc biệt dễ bị ảnh hưởng trong bối cảnh giá năng lượng tăng cao, thể hiện rất rõ trong số liệu CPI gần đây của hai nước này. Giá dầu tăng khiến lạm phát toàn phần của Philippines và Thái Lan cao hơn khá nhiều so với mục tiêu của NHTW hai nước này đặt ra. Tỷ trọng các yếu tố liên quan đến năng lượng trong rổ CPI của Malaysia và Indonesia cũng cao hơn, như liên quan đến chi phí vận chuyển. Tuy nhiên, mức độ tác động của năng lượng lại không đồng đều, tùy thuộc vào sự điều chỉnh giá của mỗi nước và/hoặc mức thuế áp lên giá nhiên liệu.

ap luc that chat chinh sach gia tang tai asean

Ở Việt Nam, lạm phát giá năng lượng cũng đã kéo dài được một thời gian. Giá vận tải tăng cao kỷ lục, vượt qua lạm phát thực phẩm để trở thành động lực chính thúc đẩy lạm phát toàn phần của Việt Nam. Bên cạnh giá dầu thế giới tăng, nguồn cung xăng dầu trong nước thiếu hụt càng khiến tình trạng khan hiếm năng lượng của Việt Nam nghiêm trọng hơn. Tuy nhiên bất chấp giá năng lượng tăng lên, lạm phát thực phẩm - vốn chiếm tỷ trọng lớn hơn trong rổ CPI - ở mức vừa phải, đã giúp kiểm soát mức tăng chung của lạm phát toàn phần tính tới thời điểm này.

Thực phẩm cũng “nhập cuộc”

Trong khi giá năng lượng tăng lên là động lực chính thúc đẩy lạm phát ở hầu hết các thị trường ASEAN thì rủi ro lớn hơn hiện nay lại xuất phát từ giá thực phẩm tăng tại các thị trường khác trên thế giới. Tình hình hiện nay gợi chúng ta nhớ đến “cuộc khủng hoảng giá thực phẩm” ở châu Á năm 2008, khi chi phí năng lượng tăng cao làm tăng áp lực lên các thị trường nông nghiệp; hay việc các nước xuất khẩu thực phẩm lớn áp dụng các hạn chế xuất khẩu làm tăng rủi ro giá cả có thể leo thang thêm nữa.

Điều may mắn với khu vực là gạo – mặt hàng thực phẩm chính của các nước thuộc khối ASEAN – chỉ mới tăng nhẹ từ đầu năm 2022 và vẫn duy trì thấp hơn mức đỉnh của năm 2021. Đây thực sự là tin tốt cho khu vực này, đặc biệt với Indonesia, Philippines và Malaysia - những nước nhập khẩu ròng gạo lớn. Mặc dù vậy, điều này cũng không đủ bù đắp cho những tác động trên diện rộng do giá tăng ở các mặt hàng thực phẩm khác và với việc thực phẩm chiếm tỷ trọng lớn trong rổ CPI ở nhiều nền kinh tế, đặc biệt như Philippines và Việt Nam, do đó lạm phát toàn phần chắc chắn sẽ tăng lên nữa.

Tất cả các nền kinh tế đều trải qua tình trạng giá thực phẩm tăng so với cùng kỳ năm trước, như lạm phát thực phẩm ở Thái Lan và Indonesia đã lên mức 5% so với cùng kỳ năm trước. So ra thì tình hình ở Việt Nam lại tốt hơn trong bối cảnh sản xuất thực phẩm chính yếu trong nước tương đối ổn định ở thời điểm hiện tại. Nhưng tóm lại, ASEAN sẽ không tránh được tác động của giá cả tăng lên. Sau khi xem xét mọi khía cạnh, HSBC đã có một vài thay đổi trong dự báo lạm phát với các nước. Theo đó, nâng mức dự báo lạm phát năm 2022 với Thái Lan (từ 3,6% lên 5,2%), Singapore (từ 4,1% lên 5%), Indonesia (từ 3,7% lên 3,9%) và Philippines (từ 4,5% lên 4,6%). Duy nhất với Việt Nam, HSBC điều chỉnh giảm nhẹ mức dự báo lạm phát năm 2022 từ mức 3,7% xuống 3,5% do giá thực phẩm trong nước ổn định nhiều khả năng sẽ giúp kiềm chế lạm phát toàn phần.

Trong bối cảnh lạm phát tăng cao, câu hỏi mấu chốt ở đây là các NHTW khu vực sẽ phản ứng như thế nào? Theo các chuyên gia HSBC, lạm phát là vấn đề cần quan tâm nhưng vẫn phụ thuộc phần nhiều vào triển vọng tăng trưởng kinh tế. Nói chung, ASEAN vẫn đang trên đà phục hồi kinh tế đầy hứa hẹn nhờ các nước dần gỡ những biện pháp hạn chế phòng dịch và nhu cầu nội địa cũng có dấu hiệu phục hồi mạnh mẽ. Trong bối cảnh đó, bất chấp những khó khăn trong thương mại toàn cầu, xuất khẩu hàng hóa từ một số nền kinh tế ASEAN nhiều khả năng vẫn trụ vững, ví dụ như Indonesia và Malaysia sẽ hưởng lợi đáng kể khi giá hàng hóa tăng, còn Singapore, Malaysia và Việt Nam tiếp tục có thể tận dụng động lực từ chu kỳ công nghệ kéo dài. Ngoài ra, việc mở cửa hoàn toàn không chỉ thu hút khách du lịch trở lại ASEAN mà còn hỗ trợ đi lại giao thương và đầu tư xuyên biên giới.

Khi xem xét cả hai vấn đề lạm phát và tăng trưởng, HSBC đã điều chỉnh dự báo lãi suất điều hành của NHTW các nước. Trong đó với Việt Nam, HSBC nhận định Việt Nam chắc chắn lấy lại mức tăng trưởng kinh tế như trước đại dịch. Trong khi lạm phát hiện tại vẫn ở dưới mục tiêu 4%, nhưng các chuyên gia dự báo tình trạng giá năng lượng cao còn kéo dài sẽ tiếp tục đẩy giá cả nói chung lên, do đó nhiều khả năng sẽ có lúc CPI vượt qua trần 4% trong nửa sau của năm 2022, nhưng chỉ là tạm thời. “Tình hình đó có thể sẽ khiến NHNN phải điều chỉnh lãi suất thêm 50 điểm cơ bản trong quý III/2022 trước khi tăng lãi suất ba lần mỗi lần 25 điểm cơ bản trong năm 2023”, báo cáo của HSBC dự báo.

Hồng Quân

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,00
3,00
3,30
4,00
4,00
5,50
5,30
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,40
3,50
3,70
5,20
5,40
5,70
6,00
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,10
3,20
3,40
4,50
4,60
5,10
5,80
Sacombank
0,03
-
-
-
3,30
3,50
3,70
4,70
4,70
5,80
6,20
Techcombank
0,03
-
-
-
2,75
2,75
3,25
4,55
4,55
5,45
5,55
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,50
5,50
DongA Bank
0,20
0,20
0,20
0,20
3,70
3,70
3,70
5,60
5,70
6,20
6,50
Agribank
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,50
5,50
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.080 23.390 26.488 27.866 31.023 32.318 204.16 214.87
BIDV 23.110 23.390 26.575 27.683 31.139 32.402 203.99 213.29
VietinBank 23.090 23.390 26.607 27.727 31.399 32.409 204.47 213.47
Agribank 23.080 23.380 26.787 27.493 31.334 32.117 205.87 211.70
Eximbank 23.140 23.350 26.871 27.398 31.480 32.096 206.75 210.81
ACB 23.130 23.350 26.814 27.429 31.401 31.993 206.11 211.05
Sacombank 23.100 23.625 26.953 27.513 31.568 32.084 206.29 212.66
Techcombank 23.106 23.392 26.643 27.863 31.118 32.281 205.24 214.28
LienVietPostBank 23.105 23.390 26.875 27.928 31.504 31.988 207.19 213.97
DongA Bank 23.160 23.430 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
67.950
68.770
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
67.950
68.750
Vàng SJC 5c
67.950
68.770
Vàng nhẫn 9999
53.950
54.900
Vàng nữ trang 9999
53.800
54.500