Bàn giải pháp khôi phục chế biến, xuất khẩu gỗ và lâm sản sau dịch Covid-19

07:48 | 17/05/2020

Ngày 16/5 tại trụ sở Bộ Nông nghiệp và Phát triển nôn thôn (NN&PTNT), Hà Nội đã diễn ra "Hội nghị bàn giải pháp khôi phục chế biến, xuất khẩu gỗ và lâm sản sau dịch Covid-19". 

Bộ trưởng Bộ NN&PTNT Nguyễn Xuân Cường chủ trì hội nghị

Theo Tổng cục Lâm nghiệp, hiện nay do dịch bệnh Covid-19 lây lan rộng tại nhiều quốc gia từ đầu năm đến nay, cao điểm dịch vào tháng 3, 4 nên đã ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động phát triển kinh tế xã hội của cả nước, trong đó ảnh hưởng đến tình hình hoạt động sản xuất, chế biến, kinh doanh gỗ và lâm sản.

Khảo sát nhanh tại hơn 200 doanh nghiệp cho thấy 80% người mua dừng hoặc hủy đơn hàng; hầu hết các kinh doanh thu hẹp quy mô sản xuất, chỉ có 7% doanh nghiệp hoạt động bình thường, 86% doanh nghiệp bị ngừng sản xuất 1 phần và khoảng 7% đã ngừng hoạt động toàn bộ do thiếu đơn hàng hoặc thiếu nguyên vật liệu và vốn đầu tư sản xuất.

Hoạt động của các doanh nghiệp bị ảnh hưởng khiến cho xuất khẩu gỗ và lâm sản trong tháng 4/2020 giảm khoảng 19,2% so với cùng kỳ năm ngoái. Dù vậy, mức tăng trưởng xuất khẩu trong 3 tháng đầu năm vẫn phù hợp với quy luật của một số năm gần dây. Do đó, giá trị xuất khẩu 4 tháng đầu năm 2020 vẫn đạt 3,5 tỷ USD, tăng 5,5% so với cùng kỳ năm 2019. Các lao động trong ngành gỗ cũng phải giảm giờ làm việc thông qua giảm ca, bố trí người lao động nghỉ việc luân phân. Theo đó, khoảng 50% người lao động tại các doanh nghiệp lớn phải nghỉ việc, tương ứng khoảng 200.000 người.

Thứ trưởng thường trực Bộ NN&PTNT Hà Công Tuấn cho rằng, hiện nay gỗ là 1 trong 3 ngành chủ lực phát triển kinh tế Việt Nam, trong thời điểm cả thế giới khó khăn về dịch bệnh thì ngành gỗ trong 3 tháng đầu năm giá trị xuất khẩu vẫn đạt 2,77 tỷ USD, tăng 14,8% so với cùng kỳ năm 2019. Mức tăng trưởng xuất khẩu trong 3 tháng đầu năm phù hợp với quy luật của một số năm gần đây, do các đơn đặt hàng luôn được ký kết từ cuối năm 2019 và đầu năm 2020.

Tuy nhiên, sang đến tháng 4, do ảnh hưởng của dịch Covid 19 tác động mạnh tại một số quốc gia là thị trường chính của ngành gỗ như Hoa kỳ, các quốc gia Châu Âu, Úc, Canada hạn chế hoặc ngừng nhập hàng hóa..., nên giá trị xuất khẩu gỗ và lâm sản giảm mạnh, giảm 19,2% so với cùng kỳ năm 2019 và giảm trên 20% so với tháng 3/2020. Dự báo, trong quý II giá trị xuất khẩu sẽ đạt khoảng 2,18 tỷ USD, giảm 20% so với cùng kỳ năm 2019 và giảm 11,3% so với quý I/2020.

Trước tình hình đó, thứ trưởng thường trực Hà Công Tuấn yêu cầu các doanh nghiệp trong thời gian tới cần hành động quyết liệt hơn, thực hiện đồng bộ các giải pháp sáng tạo, phấn đấu tăng trưởng 10% so với năm 2019. Trong quý IV ngành gỗ cần đạt mục tiêu tốc độ tăng trưởng xuất khẩu là 15%. Thứ trưởng nhấn mạnh, với năng lực sản xuất phấn đấu, chúng ta hoàn toàn có thể thực hiện được mục tiêu cả năm 2020 xuất khẩu đạt khoảng 12 tỷ USD.

Ông Đỗ Xuân Lập, Chủ tịch Hiệp hội gỗ Việt Nam cho hay, chúng ta cần xây dựng lại chiến lược phát triển sản phẩm, trong đó phát triển sản phẩm đồ gỗ dành cho gia đình là ưu tiên số một. Thực tế, những nhà máy làm không kịp đơn hàng chính là đi theo cách này, đây là cơ hội mở ra đường hướng cho ngành gỗ. Cùng với đó, ngành gỗ cần phải đẩy mạnh phát triển thị trường nội địa, đa dạng hóa giải pháp bán hàng. Nhiều cơ sở sản xuất trong nước đã kết nối với nhau để thành lập các nhóm bán hàng online, chia sẻ với các thành viên trong ngành cung ứng cho thị trường nội địa, tạo công ăn việc làm cho lao động trong bối cảnh hiện nay. 

Theo ông Lập, trong thời điểm đang khó khăn, chuỗi cung ứng bị đứt gãy, các doanh nghiệp cần nghiên cứu tích cực, chủ động mạnh dạn tái cấu trúc, tìm mọi giải pháp tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu, xây dựng chuỗi cung ứng trong nước phục vụ nguyên liệu, thiết bị, vật tư, phụ liệu cho chế biến gỗ.

Kết luận tại hội nghị Bộ trưởng Bộ NN&PTNT Nguyễn Xuân Cường cho biết trước những khó khăn do dịch COVID-19, Bộ đang cùng các Bộ, ngành khác liên quan tập trung giải quyết, tháo gỡ khó khăn cho 4.600 doanh nghiệp, cơ sở sản xuất đồ gỗ như về tín dụng, vay vốn ngân hàng, giãn, nợ thuế, chính sách về an sinh xã hội... để phục hồi sản xuất và xuất khẩu nhanh nhất. Bộ trưởng yêu cầu Hiệp hội, và các doanh nghiệp tập trung khai thác thật tốt các khe mở thị trường trong thời gian tới. Thị trường nào, quốc gia nào khống chế dịch tốt thì chúng ta phải tập trung khai thác.

Hơn nữa, các hiệp hội, doanh nghiệp, cơ sở sản xuất cần rà soát lại chiến lược kinh doanh để có nguồn lực tốt nhất khi thời điểm quý III và IV khai thác mục tiêu cao nhất hướng tới xuất khẩu gỗ năm 2020 đạt 12 tỉ USD. Tới đây, cần phải tiếp tục tái cơ cấu ngành hàng sâu rộng hơn theo hướng hiện đại, bền vững và xây dựng chương trình phát triển nguyên liệu quốc gia đáp ứng đủ căn bản nhu cầu, đa dạng hóa nguồn nguyên liệu để phục vụ sản xuất và chế biến gỗ.

M.T

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
2,90
2,90
3,20
3,80
3,80
5,50
5,30
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,50
3,50
3,50
5,60
5,80
6,20
6,30
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,00
3,10
3,20
4,40
4,80
5,50
6,20
Sacombank
-
-
-
-
3,20
3,50
3,60
5,00
5,20
5,70
6,30
Techcombank
0,03
-
-
-
2,45
2,45
2,65
3,90
3,90
4,50
4,50
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,10
3,10
3,40
4,30
4,50
5,70
5,80
DongA Bank
-
0,20
0,20
0,20
3,40
3,40
3,40
5,30
5,50
5,80
6,10
Agribank
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 22.820 23.050 27.591 28.506 30.510 31.785 215,75 226,99
BIDV 22.850 23.050 27.760 28.872 30.667 31.563 217,28 226,03
VietinBank 22.831 23.051 27.852 28.957 30.988 31.998 217,30 226,30
Agribank 22.855 23.045 27.785 28.479 30.918 31.669 219,50 225,66
Eximbank 22.850 23.030 27.939 28.461 30.994 31.573 220,96 225,08
ACB 22.850 23.030 27.958 28.460 31.172 31.604 220,83 225,02
Sacombank 22.850 23.062 28.038 28.593 31.150 31.655 220,76 227,12
Techcombank 22.832 23.052 27.717 28.940 30.710 31.855 219,56 228,84
LienVietPostBank 22.850 23.030 27.067 27.571 30.322 31.186 214,74 218,67
DongA Bank 22.870 23.030 27.930 28.430 31.030 31.580 217,40 224,40
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
56.550
57.170
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
56.550
57.150
Vàng SJC 5c
56.550
57.170
Vàng nhẫn 9999
52.600
53.200
Vàng nữ trang 9999
52.200
52.900