Bệ đỡ cho các chương trình mục tiêu quốc gia

09:38 | 25/04/2019

Mỗi năm bằng nguồn tài chính của mình, Agribank vẫn dành hàng ngàn tỷ đồng để hỗ trợ cho vay lãi suất thấp đối với các đối tượng ưu tiên trong sản xuất nông nghiệp...

Agribank hướng tới mục tiêu lợi nhuận 10 nghìn tỷ đồng
Agribank cõng vốn lên non
Agribank cam kết sẽ tiếp tục chủ động đóng góp nhiều hơn cho Chương trình mục tiêu quốc gia Xây dựng nông thôn mới và Giảm nghèo bền vững

Tập trung huy động nguồn lực thực hiện 2 chương trình mục tiêu quốc gia (Xây dựng nông thôn mới và Giảm nghèo bền vững) là một trong những nhiệm vụ trọng tâm trong Chương trình công tác năm 2019 của Ban Chỉ đạo Trung ương các chương trình mục tiêu quốc gia giai đoạn 2016-2020 do Phó Thủ tướng Vương Đình Huệ vừa ký ban hành (Quyết định số 421/QĐ-TTg ngày 16/4/2019).

Là NHTM giữ vai trò chủ lực trên thị trường tài chính nông nghiệp, nông thôn, Agribank luôn gắn bó và dành sự quan tâm đặc biệt đối với các chương trình này.

Trụ cột cho các chương trình mục tiêu quốc gia

Nhận thức rõ tầm quan trọng của Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới, triển khai Kế hoạch hành động thi đua “Cả nước chung sức xây dựng nông thôn mới” của ngành Ngân hàng, với lợi thế là ngân hàng có mạng lưới rộng khắp trong cả nước, trong suốt thời gian qua, Agribank đã có nhiều hoạt động thiết thực, kết hợp chặt chẽ với Cục Kinh tế hợp tác và Phát triển nông thôn, Văn phòng điều phối nông thôn mới các cấp, Hội Nông dân, Hội Phụ nữ và nhiều tổ chức đoàn thể chính trị ở nông thôn để hợp tác cung ứng vốn tín dụng thương mại và tín dụng ủy thác của các tổ chức trong và ngoài nước phục vụ chương trình xây dựng nông thôn mới.

Từ 11 xã được chọn thí điểm mô hình nông thôn mới, với dư nợ ban đầu 336 tỷ đồng và 8.293 khách hàng vào năm 2011, sau 7 năm, Agribank đã cho vay xây dựng nông thôn mới đến 100% số xã trong cả nước, dư nợ cho vay trên 400 nghìn tỷ đồng với gần 3 triệu khách hàng, khẳng định vị trí hàng đầu hệ thống TCTD trong việc triển khai chương trình này.

Để triển khai hiệu quả chương trình này nói riêng, cũng như chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông dân, nông thôn nói chung, Agribank phát triển sản phẩm dịch vụ đa dạng, phong phú và luôn đổi mới, cải tiến phù hợp với môi trường, điều kiện và dân trí khu vực nông thôn; tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất để người dân, doanh nghiệp được tiếp cận với nguồn vốn ngân hàng; đảm bảo an toàn, hiệu quả vốn tín dụng đầu tư.

Tuy là NHTM phải cạnh tranh huy động vốn theo cơ chế thị trường nhưng nông nghiệp, nông dân, nông thôn luôn là các đối tượng được Agrbibank ưu tiên về lãi suất cho vay thấp hơn các đối tượng khác từ 1-2%. Mỗi năm bằng nguồn tài chính của mình, Agribank vẫn dành hàng ngàn tỷ đồng để hỗ trợ cho vay lãi suất thấp đối với các đối tượng ưu tiên trong sản xuất nông nghiệp.

Không chỉ hỗ trợ tài chính, các hoạt động an sinh xã hội cũng được ngân hàng chú trọng. Đến thời điểm này, Agribank đã tài trợ xây dựng hàng trăm trường học, trạm y tế, hàng nghìn nhà tình nghĩa cho các đối tượng chính sách, hộ nghèo với kinh phí từ quỹ phúc lợi và đóng góp của cán bộ, nhân viên trong toàn hệ thống.

Có thể nói rằng, với vai trò trung gian tín dụng, Agribank đã có những đóng góp nhất định vào sự thành công của chương trình xây dựng nông thôn mới, thúc đẩy sản xuất kinh doanh, giải quyết vấn đề việc làm, chuyển dịch cơ cấu lao động, cải thiện đời sống của nhân dân ở khu vực nông thôn.

Song song với triển khai chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới và nhiều chương trình tín dụng chính sách khác của Nhà nước, Agribank đang triển khai hiệu quả chương trình mục tiêu quốc gia về giảm nghèo bền vững tại các địa bàn trọng điểm, hỗ trợ sản xuất kinh doanh, xóa đói, giảm nghèo, góp phần giữ vững ổn định chính trị, đảm bảo an ninh quốc phòng.

Ngay từ khi Chính phủ ban hành Nghị quyết 30a/2008/NQ-CP về chương trình hỗ trợ giảm nghèo nhanh và bền vững đối với 61 huyện nghèo thuộc 20 tỉnh, Agribank đã nhanh chóng nhập cuộc với nhiều giải pháp đồng bộ để chuyển tải vốn đến những vùng sâu, vùng xa, hẻo lánh một cách kịp thời, tạo điều kiện để người nghèo tiếp cận tốt hơn các dịch vụ xã hội cơ bản… Qua đó, tạo công ăn việc làm, giúp cho hàng chục vạn hộ thoát nghèo, đời sống người nghèo được cải thiện rõ rệt.

Lãnh đạo Agribank cho biết, đến nay, Agribank đã cho vay ưu đãi lãi suất hơn 12.200 tỷ đồng đối với toàn bộ các huyện nghèo theo Nghị quyết 30a. Riêng đối với Điện Biên-tỉnh có nhiều hộ nghèo nhất trong cả nước, ngay từ năm 2009, Agribank đã triển khai hỗ trợ 160 tỷ đồng cho hai huyện Mường Ảng và Tủa Chùa, bàn giao gần 3.000 ngôi nhà cho người nghèo, 41 khu nội trú dân nuôi, 6 trường học, 5 trạm y tế xã trên địa bàn tỉnh theo cam kết… Các chương trình tín dụng đó đã góp phần tích cực cùng địa phương phát triển kinh tế - xã hội và xoá đói giảm nghèo nhanh, bền vững.

Từ những kết quả trên có thể khẳng định, Agribank cùng ngành Ngân hàng và cả hệ thống chính trị đã làm nên thành công của chương trình, giảm tỷ lệ hộ nghèo qua các năm, giúp người nghèo cải thiện đời sống vật chất và tinh thần, góp phần thu hẹp khoảng cách chênh lệch về mức sống giữa nông thôn và thành thị, giữa các vùng trên cả nước.

Chung tay hoàn thành các chương trình mục tiêu quốc gia

Một trong những nội dung, nhiệm vụ trọng tâm của Chương trình công tác năm 2019 của Ban Chỉ đạo Trung ương các chương trình mục tiêu quốc gia giai đoạn 2016-2020 tại Quyết định số 421/QĐ-TTg là triển khai đồng bộ các giải pháp huy động nguồn lực để thực hiện 2 chương trình mục tiêu quốc gia (Xây dựng nông thôn mới và Giảm nghèo bền vững).

Theo đó, các đơn vị thực hiện phải đa dạng hóa các nguồn vốn thông qua hình thức lồng ghép các chương trình, dự án hỗ trợ có mục tiêu trên địa bàn; tập trung đầu tư cho các địa phương thuộc vùng đặc biệt khó khăn, vùng nhiều đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi. Đồng thời, tiếp tục đẩy mạnh thực hiện tín dụng chính sách xã hội, tín dụng cho vay nông nghiệp, nông thôn góp phần thực hiện các mục tiêu của chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới và giảm nghèo bền vững…

Với quyết tâm cùng Chính phủ và hệ thống chính trị hoàn thành mục tiêu của từng chương trình, từ thực tiễn triển khai 2 chương trình này cũng như thực hiện chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông dân, nông thôn, Agribank mong muốn trong thời gian tới, quá trình phát triển sản xuất gắn với tái cơ cấu ngành nghề, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn tiếp tục được quan tâm triển khai có hiệu quả.

Bởi trên thực tế, người nông dân vẫn sản xuất manh mún, nhỏ lẻ với sản phẩm nông nghiệp chất lượng thấp, giá thành cao, không có thương hiệu và chưa thoát khỏi điệp khúc “được mùa rớt giá”. Phương thức sản xuất đó đã làm cho chi phí vốn tăng cao và hoạt động của ngân hàng trở nên quá tải.

Để 2 chương trình mục tiêu lớn trên đi vào cuộc sống hiệu quả hơn, Agribank kiến nghị Nhà nước cần có chính sách khuyến khích hỗ trợ, tuyên truyền quảng cáo để tạo thương hiệu quốc gia cho các sản phẩm, hỗ trợ người nông dân tiêu thụ sản phẩm ngay chính ở thị trường trong nước. Nông nghiệp là lĩnh vực có rủi ro thiên tai bất khả kháng cao, trong giai đoạn tái cơ cấu hiện nay, Nhà nước cần hiện diện trong lĩnh vực tái bảo hiểm các khoản vay lớn để hỗ trợ người dân mạnh dạn đầu tư đổi mới công nghệ, cây trồng vật nuôi. Song song với đó, là phát triển và mở rộng chính sách bảo hiểm cho nông nghiệp và nông thôn, trong đó có bảo hiểm tín dụng.

Cùng với đó, nên tách bạch rõ ràng giữa tín dụng chính sách với tín dụng thương mại. Khi thực hiện nhiệm vụ chính sách, các TCTD cũng cần được hưởng những ưu đãi của chính sách như tạo nguồn vốn cho vay, cấp bù lãi suất do thực hiện chính sách giảm lãi suất, chính sách thuế…

Tổ chức thực hiện chính sách là khâu đặc biệt quan trọng, cần phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và phải được tổ chức triển khai đồng bộ, chặt chẽ. Thực tế đã cho thấy, ở đâu có sự quan tâm của cấp ủy chính quyền địa phương thì ở đó người dân dễ tiếp cận vốn ngân hàng và sử dụng vốn vay hiệu quả hơn, nợ xấu cũng thấp hơn.

Với sự quan tâm chỉ đạo của Đảng, Nhà nước, Chính phủ, các bộ, ngành, cấp ủy chính quyền địa phương các cấp, Agribank cam kết sẽ tiếp tục chủ động chuẩn bị đầy đủ nguồn vốn để đáp ứng nhu cầu cho vay nông nghiệp, nông thôn; đổi mới phương thức cho vay, cải tiến quy trình, đơn giản thủ tục cho vay, tiết kiệm chi phí cho vay để hạ lãi suất cho vay hỗ trợ khách hàng, thực hiện tốt chính sách an sinh xã hội để đóng góp nhiều hơn nữa cho Chương trình mục tiêu quốc gia Xây dựng nông thôn mới và Giảm nghèo bền vững.

Thái Anh

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,40
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,40
3,50
3,70
5,40
5,40
5,90
6,00
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,10
3,20
3,40
4,50
4,60
5,10
5,80
Sacombank
0,03
-
-
-
3,50
3,70
3,80
5,20
5,35
5,80
6,20
Techcombank
0,03
-
-
-
2,95
3,25
3,45
5,25
5,25
5,65
5,75
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,50
3,50
3,80
4,47
4,45
5,49
5,34
DongA Bank
0,20
0,20
0,20
0,20
3,80
3,80
3,80
6,10
6,20
6,70
7,00
Agribank
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.230 23.540 26.488 27.866 31.023 32.318 204.16 214.87
BIDV 23.260 23.540 26.575 27.683 31.139 32.402 203.99 213.29
VietinBank 23.239 23.539 26.607 27.727 31.399 32.409 204.47 213.47
Agribank 23.250 23.540 26.787 27.493 31.334 32.117 205.87 211.70
Eximbank 23.270 23.500 26.871 27.398 31.480 32.096 206.75 210.81
ACB 23.280 23.800 26.814 27.429 31.401 31.993 206.11 211.05
Sacombank 23.275 23.830 26.953 27.513 31.568 32.084 206.29 212.66
Techcombank 23.255 23.541 26.643 27.863 31.118 32.281 205.24 214.28
LienVietPostBank 23.225 23.540 26.875 27.928 31.504 31.988 207.19 213.97
DongA Bank 23.300 23.550 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
66.900
67.920
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
66.900
67.900
Vàng SJC 5c
66.900
67.920
Vàng nhẫn 9999
52.800
53.700
Vàng nữ trang 9999
52.700
53.300