BoE dự kiến tăng lãi suất thêm 0,5 điểm phần trăm trong tháng 12

05:48 | 24/11/2022

Điều khó xử hiện nay của BoE là lạm phát đang tăng hơn gấp 5 lần so với mục tiêu 2%, ở mức 11,1% trong tháng 10, và ngân hàng này dự báo sẽ không đạt được mục tiêu đề ra cho đến ít nhất năm 2025.

boe du kien tang lai suat them 05 diem phan tram trong thang 12
BoE dự kiến sẽ tiếp tục tăng lãi suất để đối phó với lạm phát. (Ảnh: AFP/TTXVN)

Một khảo sát của hãng tin Reuters cho thấy Ngân hàng trung ương Anh (BoE) sẽ tiếp tục tăng lãi suất để đối phó với lạm phát dù cho nước này đang có nguy cơ rơi vào suy thoái, trong đó người dân đối mặt với cuộc khủng hoảng chi phí sinh hoạt kéo dài.

Trong báo cáo tài chính mùa Thu công bố tuần trước, Bộ trưởng Tài chính Vương quốc Anh Jeremy Hunt cảnh báo người dân sẽ phải "thắt lưng buộc bụng" nhiều hơn khi chính phủ sắp tiến hành tăng thuế và cắt giảm chi tiêu, do vậy bất kỳ sự hỗ trợ nào về chi phí đi vay sẽ được các hộ gia đình đang mắc nợ hoan nghênh.

Theo cuộc khảo sát từ ngày 18-22/11, sau khi tăng lãi suất thêm 75 điểm cơ bản (0,5 điểm phần trăm) hồi đầu tháng này, Ủy ban Chính sách tiền tệ dự định tiến hành tăng lãi suất thêm 50 điểm cơ bản nữa trong cuộc họp ngày 15/12, lên mức 3,5%. Trong khảo sát tháng 10, lãi suất được dự kiến ở mức 3,75% vào cuối năm.

Kế hoạch ngân sách của Bộ trưởng Hunt được đưa ra sau khi kế hoạch trước đó của người tiền nhiệm, đề xuất cắt giảm thuế, gây hoang mang thị trường và khiến đồng bảng Anh rơi xuống mức thấp kỷ lục so với đồng USD, và buộc BoE phải hỗ trợ thị trường trái phiếu.

James Smith thuộc ING nhận định các nhà hoạch định chính sách đã cố gắng gửi đi một tín hiệu ôn hòa cho thị trường trong tháng 11 và BoE có thể sẽ tiếp bước theo Cục Dự trữ liên bang Mỹ (Fed).

Tại cuộc họp ngày 3/11, Thống đốc Andrew Bailey nói với các nhà đầu tư rằng mức lãi suất mà họ đang đồn đoán là mức "đỉnh" khoảng 4,7% dường như quá cao.

Fed đã tiến hành tăng lãi suất thêm 75 điểm cơ bản lần thứ tư liên tiếp, song mức tăng vào tháng tới dự kiến sẽ giảm xuống 50 điểm cơ bản.

Sau lần tăng lãi suất trong tháng 12 tới, BoE có thể sẽ tăng lãi suất thêm 75 điểm cơ bản trong hai cuộc họp vào quý tới, mà khảo sát trên cho thấy ngân hàng này sẽ để lãi suất tạm duy trì ở mức 4,25%, phù hợp với mức lãi suất cuối cùng được dự báo trong tháng trước.

Tuy nhiên, khi được hỏi về rủi ro đối với dự báo lãi suất cuối kỳ, 15 người tham gia khảo sát cho hay rủi ro sẽ đến muộn hơn và lớn hơn mức họ dự báo, còn 7 người khác thì cho rằng nó sẽ đến sớm hơn nhưng mức độ thấp hơn.

Điều khó xử hiện nay của BoE là lạm phát đang tăng hơn gấp 5 lần so với mục tiêu 2%, ở mức 11,1% trong tháng 10, và ngân hàng này dự báo sẽ không đạt được mục tiêu đề ra cho đến ít nhất năm 2025.

Người dân Anh đang bị ảnh hưởng bởi giá năng lượng tăng vọt sau khi Nga tiến hành chiến dịch quân sự đặc biệt tại Ukraine, giá lương thực tăng với tốc độ nhanh nhất kể từ năm 1980 và tình trạng gián đoạn chuỗi cung ứng trở nên trầm trọng hơn khi Anh rời Liên minh châu Âu (EU), hay còn gọi là Brexit.

Khi được hỏi mất bao lâu trước khi cuộc khủng hoảng chi phí sinh hoạt giảm đáng kể, sáu người tham gia khảo sát nói rằng sẽ cần 6-12 tháng, trong khi 10 người khác nói rằng sẽ là 1-2 năm, còn một người cho rằng sẽ mất hơn hai năm.

Cuộc thăm dò cho thấy lạm phát sẽ đạt đỉnh 10,7% trong quý này. Sau đó, lạm phát sẽ giảm dần, xuống 10% trong quý tới và sau đó là 7,7%, 6,5% và 4,5% trong các quý tiếp theo. Tăng trưởng GDP dự kiến sẽ giảm 0,4% trong quý này và quý tới, và giảm 0,3% trong quý tiếp theo.

Nguồn: www.vietnamplus.vn

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
4,10
4,10
4,40
4,70
4,80
6,40
6,40
BIDV
0,10
-
-
-
4,10
4,10
4,40
4,70
4,80
6,40
6,40
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
4,10
4,10
4,40
4,70
4,80
6,40
6,40
Cake by VPBank
0,10
-
-
-
4,90
-
4,95
7,90
-
8,50
8,60
ACB
-
0,50
0,50
0,50
4,00
4,10
4,20
5,50
5,70
6,20
6,90
Sacombank
-
-
-
-
5,60
5,70
5,80
7,00
7,15
7,30
7,50
Techcombank
0,03
-
-
-
5,90
5,90
5,90
6,70
6,70
7,00
7,00
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
6,00
6,00
6,00
6,50
6,50
5,90
6,40
DongA Bank
0,50
0,50
0,50
0,50
5,00
5,00
5,00
6,80
6,90
7,40
7,70
Agribank
0,30
-
-
-
4,10
4,10
4,40
4,80
4,80
6,40
6,40
Eximbank
0,20
0,50
0,50
0,50
4,50
4,60
4,70
6,00
6,10
6,60
6,60
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.970 24.280 24.754 26.138 28.541 29.755 170.32 180.30
BIDV 23.960 24.240 24.915 26.013 28.716 29.883 170.53 178.87
VietinBank 23.990 24.290 25.021 26.156 28.886 29.896 171.64 180.19
Agribank 23.980 24.280 25.147 26.225 28.899 29.682 174.11 180.63
Eximbank 23.980 24.620 25.044 25.697 28.953 29.708 172.21 176.70
ACB 23.950 24.300 25.119 26.701 29.135 29.691 172.39 176.56
Sacombank 23.960 24.230 25.081 25.996 29.089 29.855 172.56 180.11
Techcombank 23.978 24.280 25.080 25.730 28.970 29.730 171.40 177.00
LienVietPostBank 23.980 24.550 25.088 26.320 29.058 29.881 172.21 181.04
DongA Bank 24.010 24.300 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
66.300
67.170
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
66.300
67.150
Vàng SJC 5c
66.300
67.170
Vàng nhẫn 9999
53.400
54.400
Vàng nữ trang 9999
53.200
54.000