Các NHTW Mỹ Latinh trước áp lực lạm phát

07:00 | 13/09/2021

Không riêng gì Peru, lạm phát tăng cao đã buộc nhiều NHTW lớn trong khu vực Mỹ Latinh như Mexico, Brazil, Chlie phải rút lại các biện pháp kích thích và tăng lãi suất.

Peru vừa tăng lãi suất cơ bản thêm nửa điểm phần trăm lên 1%, lần tăng lãi suất thứ hai liên tiếp và là mức tăng mạnh nhất kể từ năm 2010 sau khi lạm phát vi phạm giới hạn trên của phạm vi lạm phát mục tiêu và bất ổn chính trị ảnh hưởng đến đồng nội tệ của nước này.

Còn nhớ sau khi đại dịch Covid-19 bùng phát, NHTW Peru cũng đã giảm lãi suất cơ bản xuống còn 0,25% - mức thấp nhất ở khu vực Mỹ Latinh - và duy trì lãi suất ở mức cực thấp đó cho đến tháng trước khi cơ quan này tăng lãi suất lên 0,50%.

cac nhtw my latinh truoc ap luc lam phat
Ảnh minh họa

Mặc dù trong thông báo phát đi sau đó, NHTW Peru cho biết, quyết định tăng lãi suất “không nhất thiết ngụ ý một chu kỳ tăng lãi suất liên tiếp” và cơ quan này sẽ “đặc biệt chú ý đến thông tin mới liên quan đến kỳ vọng lạm phát và sự tiến triển của hoạt động kinh tế để xem xét, nếu cần, các thay đổi đối với lập trường tiền tệ”.

Tuy nhiên, giới chuyên gia lại không cho rằng như vậy khi mà lạm phát đang tăng cao hơn mức trần mục tiêu ở hầu hết các nền kinh tế lớn thuộc khu vực châu Mỹ Latinh. Theo Alvaro Vivanco – Trưởng bộ phận chiến lược thị trường mới nổi của NatWest Markets ở Stamford, các nhà hoạch định chính sách tiền tệ của Peru đang cố gắng tạo ra sự bình tĩnh bằng cách rút lại các biện pháp kích thích với tốc độ không có vẻ “hoảng loạn”.

Tỷ lệ lạm phát hàng năm của Peru đã tăng lên 4,95% vào tháng trước, tốc độ tăng nhanh nhất kể từ năm 2009. Trong khi mức sụt giảm 11% của nền kinh tế Peru trong năm ngoái là mức giảm sâu nhất trong số các nền kinh tế lớn ở Mỹ Latinh và theo Quỹ Tiền tệ Quốc tế, kinh tế Peru sẽ không thể đạt mức trước khi xảy ra đại dịch cho đến năm 2022.

Không chỉ phải đối mặt với lạm phát tăng cao mà NHTW Peru còn phải chịu thêm áp lực từ sự biến động chính trị trong nước. Kể từ khi Tổng thống Pedro Castillo tuyên thệ nhậm chức vào ngày 28/7, đồng nội tệ của quốc gia này đã suy yếu mạnh nhất trong số các đồng tiền của các thị trường mới nổi.

Lạm phát đã tăng nhanh trên các thị trường mới nổi trong những tháng gần đây, khi mà nhu cầu tăng nhanh song chuỗi cung ứng được phục hồi hoàn toàn sau đại dịch và các doanh nghiệp chuyển giá hàng hóa toàn cầu cao hơn cho khách hàng của họ.

Không riêng gì Peru, lạm phát tăng cao đã buộc nhiều NHTW lớn trong khu vực như Mexico, Brazil, Chlie phải rút lại các biện pháp kích thích và tăng lãi suất. Chẳng hạn Chile mới đây cũng đã gây sốc cho các nhà đầu tư khi tăng lãi suất mạnh nhất trong hai thập kỷ.

Hay như tại Brazil, việc lạm phát tăng cao hơn nhiều so với dự kiến lên tới gần 10% có thể khiến NHTW nước này phải tiếp tục tăng lãi suất khi đã bất ngờ tăng mạnh lãi suất tới 75 điểm hồi tháng 3 năm nay trước áp lực lạm phát và sự mất giá của đồng nội tệ.

Tại Brazil, “những bất ổn tài khóa dai dẳng và bất ổn chính trị gia tăng có thể gây thêm áp lực lên NHTW trong việc thắt chặt chính sách tiền tệ mạnh hơn nữa so với kế hoạch. Điều này thể hiện một số rủi ro tăng đối với dự báo của chúng tôi về lãi suất chính sách sẽ ở mức 7,5% vào cuối năm 2021 và 2022”, Adriana Dupita – Nhà kinh tế về Brazil & Argentina của Bloomberg Economics nói.

Trong khi tại Mexico, lạm phát tăng mạnh đã buộc NHTW nước này phải tăng lãi suất tới hai lần kể từ đầu năm. Tuy nhiên theo giới chuyên gia, lạm phát tại Mexico khó có thể đạt mức mục tiêu 3% cho tới đầu năm 2023 mà nguyên nhân một phần cũng bởi hiệu quả của chính sách tiền tệ là khá yếu khi mà nền kinh tế phi chính thức vẫn chiếm một tỷ lệ khá lớn tại quốc gia nam Mỹ này. Theo đó, tại Mexico chỉ có dưới 40% dân số có tài khoản ngân hàng; tín dụng cho các hộ gia đình và doanh nghiệp cũng chỉ chiếm khoảng 45% GDP, trong khi ở Thái Lan, nơi thu nhập bình quân đầu người tương tự, con số là 131%.

Hiện NHTW lớn duy nhất trong khu vực này chưa tăng lãi suất là Colombia. Song giới chuyên gia dự báo NHTW Colombia cũng sẽ tăng lãi suất trong tháng này.

Mai Ngọc

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,50
5,30
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,50
3,50
3,50
5,60
5,80
6,10
6,30
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,00
3,10
3,20
4,40
4,80
5,50
6,20
Sacombank
0,03
-
-
-
3,10
3,20
3,30
4,60
4,90
5,50
6,00
Techcombank
0,03
-
-
-
2,45
2,45
2,65
3,90
3,90
4,50
4,50
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,10
3,10
3,40
4,20
4,40
5,60
5,60
DongA Bank
-
0,20
0,20
0,20
3,40
3,40
3,40
5,30
5,50
5,80
6,10
Agribank
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 22.780 23.050 26.488 27.866 31.023 32.318 204.16 214.87
BIDV 22.810 23.050 26.575 27.683 31.139 32.402 203.99 213.29
VietinBank 22.795 23.055 26.607 27.727 31.399 32.409 204.47 213.47
Agribank 22.800 23.050 26.787 27.493 31.334 32.117 205.87 211.70
Eximbank 22.820 23.030 26.871 27.398 31.480 32.096 206.75 210.81
ACB 22.840 23.030 26.814 27.429 31.401 31.993 206.11 211.05
Sacombank 22.830 23.060 26.953 27.513 31.568 32.084 206.29 212.66
Techcombank 22.790 23.055 26.643 27.863 31.118 32.281 205.24 214.28
LienVietPostBank 22.840 23.030 26.875 27.928 31.504 31.988 207.19 213.97
DongA Bank 22.860 23.030 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
60.250
60.970
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
60.250
60.950
Vàng SJC 5c
60.250
60.970
Vàng nhẫn 9999
51.650
52.350
Vàng nữ trang 9999
51.350
52.050