Chỉ số kinh tế:
Ngày 29/10/2026, tỷ giá trung tâm của VND với USD là 25.6344 đồng/USD, tỷ giá USD tại Cục Quản lý ngoại hối là 24.412/26.876 đồng/USD. Kinh tế tháng 9/2026 ghi nhận nhiều tín hiệu tích cực, với các động lực sản xuất, tiêu dùng, xuất khẩu, đầu tư và việc làm tiếp tục được duy trì. Trong công nghiệp, số lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp công nghiệp tăng 1,0% so với tháng trước; chỉ số tiêu thụ toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo giảm 0,5%, trong khi chỉ số tồn kho tăng 4,3%. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng đạt 690,6 nghìn tỷ đồng, tăng 1,7% so với tháng trước; khách quốc tế đến Việt Nam đạt 1,77 triệu lượt người, giảm 11,3%. Xuất khẩu là điểm sáng với kim ngạch đạt 59,48 tỷ USD, tăng 8,5% so với tháng trước; cán cân thương mại hàng hóa xuất siêu 1,27 tỷ USD. CPI tăng 0,62% so với tháng trước. Thu ngân sách Nhà nước tháng Chín ước đạt 162,7 nghìn tỷ đồng, chi ngân sách Nhà nước ước đạt 256,8 nghìn tỷ đồng. Đáng chú ý, vốn FDI thực hiện chín tháng đạt 21,07 tỷ USD, tăng 12,1% so với cùng kỳ năm trước, là số vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện cao nhất của chín tháng trong 5 năm qua. Thị trường lao động duy trì tích cực khi lao động có việc làm chín tháng đạt 52,7 triệu người, cao hơn 683,8 nghìn người; thu nhập bình quân đạt 9,1 triệu đồng/tháng, cao hơn 752,8 nghìn đồng so với cùng kỳ năm trước.

Chính sách hỗ trợ ngày càng nhiều, vì sao doanh nghiệp nhỏ và vừa vẫn khó tiếp cận?

Trần Hương
Trần Hương  - 
Chuyển từ tư duy hỗ trợ sang tạo điều kiện để doanh nghiệp chủ động phát triển là định hướng nhận được sự đồng tình của nhiều đại biểu Quốc hội khi thảo luận dự án Luật Phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa. Tuy nhiên, những băn khoăn về khả năng tiếp cận vốn, hiệu quả ưu đãi thuế, mặt bằng sản xuất và nguồn lực thực hiện cho thấy yêu cầu đặt ra không chỉ là mở rộng chính sách, mà còn phải bảo đảm doanh nghiệp thực sự được thụ hưởng.
aa
Chiều 29/10/2026: Quốc hội thảo luận ở hội trường về dự án Luật Phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa
Chiều 29/10/2026, Quốc hội thảo luận ở hội trường về dự án Luật Phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa

Chiều nay (29/10), Quốc hội thảo luận tại hội trường về dự án Luật Phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa. Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Hồng điều hành phiên họp cho biết, tại phiên thảo luận tổ ngày 17/10 đã có 90 lượt đại biểu phát biểu. Bộ Tài chính cũng đã có Báo cáo số 879 ngày 28/10 tiếp thu, giải trình bước đầu các ý kiến.

Các đại biểu cơ bản tán thành sự cần thiết ban hành luật, đồng thời tập trung góp ý vào những cơ chế có ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng phát triển của doanh nghiệp, từ xác định đối tượng thụ hưởng đến tiếp cận tín dụng, ưu đãi thuế, mặt bằng sản xuất, đổi mới công nghệ và tham gia thị trường.

Mở rộng đối tượng hỗ trợ phải đi cùng nguồn lực thực hiện

Một trong những nội dung được nhiều đại biểu quan tâm là tiêu chí xác định doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Điều 4. Theo dự thảo, doanh nghiệp có số lao động sử dụng bình quân năm trước liền kề không quá 300 người và đáp ứng một trong hai ngưỡng về tổng nguồn vốn không quá 150 tỷ đồng hoặc doanh thu không quá 400 tỷ đồng.

Đại biểu Dương Khắc Mai (Lâm Đồng) cho biết, theo báo cáo tiếp thu, giải trình, việc điều chỉnh tiêu chí dự kiến nâng tỷ lệ doanh nghiệp thuộc diện nhỏ và vừa từ 94% lên khoảng 98,4%. Tán thành định hướng này, đại biểu đề nghị làm rõ cách xác định quy mô đối với doanh nghiệp mới thành lập, doanh nghiệp hoạt động đa ngành và doanh nghiệp tăng trưởng vượt ngưỡng khi đang thực hiện chương trình hỗ trợ.

Theo đại biểu, việc doanh nghiệp phát triển không nên trở thành lý do khiến những cam kết hỗ trợ hợp pháp đang thực hiện bị chấm dứt đột ngột.

Cùng quan tâm đến tiêu chí phân loại, đại biểu Nguyễn Hữu Toàn (Lai Châu) đề nghị cân nhắc điều kiện về số lao động. Theo đại biểu, nếu hai doanh nghiệp cùng đáp ứng ngưỡng vốn và doanh thu thì doanh nghiệp tạo ra nhiều việc làm hơn không nên vì thế mà mất cơ hội được hỗ trợ. Đại biểu cũng đề nghị làm rõ tổng nguồn vốn là vốn chủ sở hữu hay bao gồm cả vốn huy động.

Ở góc nhìn khác, đại biểu Phạm Văn Hòa (Đồng Tháp) băn khoăn việc nâng ngưỡng vốn và doanh thu có thể mở rộng diện thụ hưởng trong khi nguồn lực hỗ trợ còn hạn chế. Đại biểu đề nghị tính toán kỹ và phân loại tiêu chí theo đặc thù nông nghiệp, công nghiệp, thương mại, dịch vụ để chính sách phù hợp hơn với từng lĩnh vực.

Không chỉ xác định ai được hỗ trợ, cách lựa chọn doanh nghiệp thụ hưởng cũng cần được làm rõ. Đại biểu Nguyễn Thị Yến Nhi (Vĩnh Long) cho rằng, việc ưu tiên hồ sơ nộp trước có thể khiến những doanh nghiệp cần hỗ trợ nhất lại gặp bất lợi, nhất là doanh nghiệp ở miền núi, hải đảo hoặc do người khuyết tật làm chủ.

Đại biểu đề nghị xét hồ sơ hợp lệ theo đợt, căn cứ trước hết vào nhóm ưu tiên và tiêu chí của chương trình; thời điểm nộp hồ sơ chỉ được sử dụng khi các điều kiện tương đương.

Từ góc độ hiệu quả thực thi, đại biểu Phan Thị Thùy Linh (Thanh Hóa) dẫn kết quả khảo sát gần 500 doanh nghiệp nhỏ và vừa trong báo cáo tổng kết của Bộ Tài chính, trong đó chỉ khoảng 9% phản hồi đã tiếp cận, thụ hưởng chính sách hỗ trợ.

Theo đại biểu, quá trình nâng cấp để tham gia chuỗi giá trị có thể kéo dài một đến hai năm, trong khi hoạt động hỗ trợ thường tập trung vào những tháng cuối năm ngân sách. Vì vậy, cần có cơ chế thực hiện nhiệm vụ hỗ trợ nhiều năm, bố trí kinh phí theo từng giai đoạn và nghiệm thu theo kết quả thực chất.

Đại biểu nhấn mạnh hiệu quả chính sách phải được đánh giá bằng năng suất, chất lượng và khả năng đáp ứng yêu cầu khách hàng của doanh nghiệp, thay vì chỉ căn cứ vào số lượng hoạt động hỗ trợ đã triển khai.

Ưu đãi thuế, mặt bằng và thị trường, doanh nghiệp được hưởng lợi đến đâu?

Bên cạnh nguồn vốn, chính sách miễn thuế thu nhập doanh nghiệp trong ba năm kể từ khi được cấp giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp lần đầu cũng nhận được nhiều ý kiến.

Đại biểu Trịnh Thị Tú Anh (Lâm Đồng) cho rằng, cần phân biệt thời gian doanh nghiệp thuộc diện được miễn thuế với thời gian thực sự nhận được lợi ích tài chính. Những doanh nghiệp đầu tư nghiên cứu, công nghệ hoặc dây chuyền sản xuất có thể chưa phát sinh thu nhập chịu thuế trong những năm đầu.

Vì vậy, đại biểu đề nghị đánh giá tỷ lệ doanh nghiệp thực sự được hưởng lợi, mức ưu đãi thực nhận và sự khác biệt giữa các ngành nghề, chu kỳ đầu tư.

Đại biểu Nguyễn Văn Thân đề xuất miễn thuế trong ba năm kể từ khi doanh nghiệp có lợi nhuận, nhưng không quá năm năm kể từ ngày được cấp giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp lần đầu.

Với chính sách mặt bằng sản xuất, đại biểu Dương Khắc Mai đề nghị bảo đảm khoản hỗ trợ giảm tối thiểu 30% tiền thuê lại đất trong năm năm đầu thực sự được trừ vào số tiền doanh nghiệp phải trả, đồng thời công khai giá thuê trước và sau hỗ trợ để tránh ưu đãi bị triệt tiêu bởi việc tăng giá thuê.

Đại biểu Vương Quốc Thắng (Đà Nẵng) lại đề nghị cân nhắc các mức diện tích và tỷ lệ hỗ trợ cố định, giao Hội đồng nhân dân cấp tỉnh quyết định phù hợp với quỹ đất và khả năng ngân sách. Đại biểu cũng lưu ý phải xác định rõ cơ chế quản lý tài sản hình thành từ nguồn hỗ trợ của Nhà nước.

Từ thực tiễn vùng nguyên liệu, đại biểu Vương Thị Hương (Tuyên Quang) đề nghị làm rõ việc kế thừa chính sách bố trí quỹ đất phát triển khu sơ chế, bảo quản, chế biến nông, lâm, thủy sản tập trung. Theo đại biểu, nhu cầu mặt bằng gắn với vùng nguyên liệu không phải lúc nào cũng có thể đáp ứng trong khu công nghiệp, cụm công nghiệp.

Về mở rộng thị trường, đại biểu Nguyễn Văn Thân ủng hộ cơ chế dành tối thiểu 20% tổng giá trị các gói thầu sử dụng ngân sách nhà nước cho doanh nghiệp nhỏ và vừa tham gia. Tuy nhiên, đại biểu đề nghị có cơ chế bảo đảm doanh nghiệp thực sự được giao việc và thanh toán, nhất là khi tham gia với tư cách nhà thầu phụ.

Đại biểu Nguyễn Thị Việt Nga cũng đề nghị phân biệt giá trị gói thầu được dành cho doanh nghiệp nhỏ và vừa tham gia với giá trị hợp đồng doanh nghiệp thực tế được trao, nhằm phản ánh đúng kết quả chính sách.

Ở nhóm chính sách phát triển bền vững, đại biểu Nguyễn Thanh Cầm (Đồng Tháp) đề nghị phân biệt nhu cầu hỗ trợ của doanh nghiệp do phụ nữ làm chủ với doanh nghiệp sử dụng nhiều lao động nữ. Đại biểu Trịnh Thị Tú Anh thì đề nghị làm rõ điều kiện hỗ trợ đối với dự án xanh, kinh tế tuần hoàn và doanh nghiệp áp dụng tiêu chuẩn ESG.

Đối với hộ kinh doanh chuyển đổi thành doanh nghiệp, đại biểu Nguyễn Thị Yến Nhi đánh giá cao quy định cấp giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp trong một ngày làm việc, nhưng đề nghị đồng thời có cơ chế chuyển tiếp về hóa đơn, thuế,

Trần Hương

Tin liên quan

Tin khác

VIFTA: Từ cánh cửa thương mại đến cầu nối công nghệ và chuỗi giá trị

VIFTA: Từ cánh cửa thương mại đến cầu nối công nghệ và chuỗi giá trị

Từ những ưu đãi thương mại, Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam - Israel (VIFTA) đang mở ra dư địa hợp tác sâu rộng hơn về công nghệ, đầu tư và đổi mới sáng tạo. Tuy nhiên, để biến cơ hội thành năng lực cạnh tranh thực chất, doanh nghiệp Việt Nam cần chuyển từ tiếp nhận công nghệ sang hấp thụ, làm chủ và cùng phát triển công nghệ, từng bước tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu.
Thúc đẩy hợp tác tài chính xanh, hỗ trợ doanh nghiệp chuyển đổi bền vững

Thúc đẩy hợp tác tài chính xanh, hỗ trợ doanh nghiệp chuyển đổi bền vững

Để thúc đẩy chuyển đổi xanh và nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp, Đà Nẵng đang hướng đến kết nối nguồn lực quốc tế, tổ chức tài chính và các đối tác hỗ trợ kỹ thuật, từng bước tháo gỡ khó khăn về vốn, công nghệ và tiêu chuẩn phát triển bền vững.
Doanh nghiệp Anh hợp tác thúc đẩy nền kinh tế thu nhập cao, giá trị cao

Doanh nghiệp Anh hợp tác thúc đẩy nền kinh tế thu nhập cao, giá trị cao

Ngày 29/10/2026, Diễn đàn Doanh nghiệp Vương quốc Anh – Việt Nam 2026 (UK – Vietnam Business Forum 2026) diễn ra tại TP. Hồ Chí Minh, với chủ đề “Tầm nhìn 2045: Kiến tạo nền kinh tế thu nhập cao, giá trị cao”.
Hợp tác với Bắc Âu - cơ hội nâng tầm doanh nghiệp Việt trong chuỗi giá trị toàn cầu

Hợp tác với Bắc Âu - cơ hội nâng tầm doanh nghiệp Việt trong chuỗi giá trị toàn cầu

Ngày 29/10, tại Diễn đàn Doanh nghiệp Bắc Âu - Việt Nam năm 2026, Phó Chủ tịch UBND TP. Hồ Chí Minh Bùi Minh Thạnh khẳng định các nhà đầu tư Bắc Âu không chỉ mang đến nguồn vốn mà còn mang theo công nghệ tiên tiến, chuẩn mực quản trị, năng lực đổi mới sáng tạo và cơ hội nâng tầm doanh nghiệp Việt trong chuỗi giá trị toàn cầu.
Gỡ điểm nghẽn công nghệ để nâng giá trị nông sản

Gỡ điểm nghẽn công nghệ để nâng giá trị nông sản

Nông nghiệp duy trì đà tăng trưởng, xuất khẩu tích cực, nhưng muốn nâng giá trị nông sản, Việt Nam cần tháo gỡ điểm nghẽn công nghệ, chế biến và liên kết thị trường.
Nâng cao năng lực quản trị rủi ro khi xuất khẩu sang thị trường Trung Quốc

Nâng cao năng lực quản trị rủi ro khi xuất khẩu sang thị trường Trung Quốc

Trung Quốc luôn là thị trường xuất khẩu giàu tiềm năng đối với hàng hóa Việt Nam. Song, những yêu cầu ngày càng cao về tiêu chuẩn chất lượng, xuất xứ, logistics và thanh toán đang đặt ra không ít thách thức cho doanh nghiệp. Để khai thác hiệu quả thị trường này, các chuyên gia cho rằng doanh nghiệp cần chuyển từ tư duy tìm kiếm đơn hàng sang quản trị toàn diện chuỗi xuất khẩu, chủ động kiểm soát rủi ro, tối ưu chi phí và nâng cao năng lực cạnh tranh.
Tập đoàn CMC giới thiệu hệ sinh thái AI C-PRODUCT tại Diễn đàn Kinh tế Mùa thu 2026

Tập đoàn CMC giới thiệu hệ sinh thái AI C-PRODUCT tại Diễn đàn Kinh tế Mùa thu 2026

Tại Diễn đàn Kinh tế Mùa thu 2026 diễn ra từ ngày 26-29/10 tại TP. Hồ Chí Minh, Tập đoàn Công nghệ CMC giới thiệu hệ sinh thái sản phẩm, giải pháp AI C-Product make in Vietnam. Bên cạnh hoạt động triển lãm, ông Lê Minh, Giám đốc Công nghệ CMC TS, tham gia với vai trò diễn giả thảo luận tại phiên chuyên đề về “Năng lực tự chủ AI (AI Sovereign)”, chia sẻ góc nhìn về hạ tầng, dữ liệu, công nghệ và quản trị AI trong bối cảnh Việt Nam thúc đẩy chuyển đổi AI.
Masan cải thiện hiệu quả kinh doanh, triển vọng dài hạn thu hút sự chú ý của các tổ chức tài chính

Masan cải thiện hiệu quả kinh doanh, triển vọng dài hạn thu hút sự chú ý của các tổ chức tài chính

Sau 9 tháng năm 2026, lợi nhuận của Masan Group (HOSE: MSN) cao gấp khoảng 1,5 lần kết quả cả năm 2025. Tăng trưởng từ tiêu dùng - bán lẻ, vật liệu chiến lược và khả năng tạo dòng tiền đang củng cố triển vọng dài hạn của Tập đoàn, trong bối cảnh các tổ chức phân tích tài chính tiếp tục đưa ra đánh giá tích cực về Masan.
Điều gì giúp một thương hiệu vẫn được lựa chọn khi thói quen tiêu dùng liên tục thay đổi?

Điều gì giúp một thương hiệu vẫn được lựa chọn khi thói quen tiêu dùng liên tục thay đổi?

Trong số hàng nghìn doanh nghiệp được người tiêu dùng bình chọn qua ba thập kỷ, chỉ 28 doanh nghiệp duy trì danh hiệu Hàng Việt Nam Chất lượng cao liên tục 30 năm. Vinamilk là một trong số đó. Đằng sau con số này là hành trình nửa thế kỷ “không ngừng nâng chuẩn” trong khi yêu cầu của người tiêu dùng cũng không đứng yên.
50 năm Vinamilk: Sức bền của một thương hiệu không ngừng đổi mới

50 năm Vinamilk: Sức bền của một thương hiệu không ngừng đổi mới

Trong năm kỷ niệm 50 năm thành lập, Vinamilk liên tiếp được vinh danh tại nhiều giải thưởng và bảng xếp hạng. Mới nhất, doanh nghiệp được xướng tên tại Thương hiệu Mạnh 2026 và Better Choice Awards 2026, tiếp tục cho thấy sức mạnh thương hiệu được xây dựng trên nền tảng kinh doanh, đổi mới và năng lực cạnh tranh.