Chính sách tiền tệ góp phần củng cố nền tảng vĩ mô

08:38 | 14/05/2020

Một trong những điểm sáng được giới chuyên môn ghi nhận trong 5 năm qua đó là sức khỏe của hệ thống ngân hàng ngày càng được cải thiện.

Chính sách tiền tệ góp phần quan trọng thực hiện thành công mục tiêu ổn định kinh tế vĩ mô
Ổn định chính sách tiền tệ là cần thiết

Điều hành CSTT linh hoạt, chủ động

Nhìn lại bức tranh toàn cảnh 5 năm trở lại đây, có thể nói về cơ bản, NHNN đã hoàn thành các nhiệm vụ được giao và đạt được mục tiêu Quốc hội và Chính phủ đề ra tại Nghị quyết số 113/2015/QH13 và các Nghị quyết của Quốc hội về hoạt động chất vấn. Chính sách tiền tệ được điều hành hết sức chủ động, linh hoạt góp phần quan trọng vào việc kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô.

Theo đó, từ 2016 tới nay, trên cơ sở bám sát diễn biến thị trường trong và ngoài nước, NHNN đã điều chỉnh giảm các mức lãi suất điều hành, kết hợp với điều tiết và đáp ứng kịp thời nhu cầu thanh khoản cho các TCTD, duy trì lãi suất trên thị trường liên ngân hàng ở mức phù hợp để tạo điều kiện hỗ trợ nguồn vốn với chi phí hợp lý cho các TCTD, tạo điều kiện để các TCTD giảm lãi suất cho vay.

Các giải pháp hỗ trợ của ngành Ngân hàng đã giúp DN vượt qua khó khăn của dịch Covid-19

NHNN cũng đã điều hành tỷ giá hết sức linh hoạt, chủ động, kết hợp với các giải pháp điều tiết thanh khoản hợp lý, sẵn sàng bán ngoại tệ can thiệp để bình ổn thị trường ngoại hối, qua đó góp phần ổn định kinh tế vĩ mô. Không những vậy việc điều hành tỷ giá chủ động và linh hoạt bám sát diễn biến thị trường hàng ngày đã góp phần nâng cao vị thế đồng Việt Nam, ổn định thị trường ngoại tệ, tạo nguồn cung tăng dự trữ ngoại hối nhà nước, chuyển hóa nguồn ngoại tệ thành nguồn vốn cho sản xuất, kinh doanh, góp phần phát triển kinh tế.

Về tín dụng, giới chuyên gia nhận định, những năm gần đây, tín dụng tăng trưởng phù hợp, được kiểm soát theo mục tiêu, nhưng tăng trưởng kinh tế vẫn ở mức cao, cho thấy các giải pháp, chính sách tín dụng của NHNN đã đi đúng hướng, vừa đảm bảo mở rộng tín dụng hiệu quả, an toàn, cung ứng đủ vốn cho nền kinh tế, vừa phù hợp với mục tiêu kiểm soát lạm phát.

Đặc biệt, những tháng đầu năm 2020, trước diễn biến phức tạp của dịch Covid-19, NHNN đã có nhiều giải pháp để góp phần tháo gỡ khó khăn và hỗ trợ cộng đồng doanh nghiệp, nền kinh tế ứng phó với dịch bệnh. Theo đó, NHNN đã hai lần điều chỉnh giảm các mức lãi suất điều hành, phát đi một tín hiệu mạnh mẽ sẵn sàng hỗ trợ thanh khoản với lãi suất thấp để các TCTD giảm lãi suất cho vay hỗ trợ nền kinh tế. NHNN cũng đã ban hành Thông tư số 01/2020/TT-NHNN ngày 12/3/20220, Chỉ thị số 02/CT-NHNN ngày 31/3/2020, Công điện số 02/CĐ-NHNN ngày 11/3/2020 yêu cầu các TCTD cơ cấu lại thời hạn trả nợ, miễn, giảm lãi vay, giữ nguyên nhóm nợ, hỗ trợ khách hàng chịu ảnh hưởng bởi dịch Covid-19... Trên cơ sở đó, các TCTD đã giảm lãi suất huy động và cho vay đối với khách hàng; một số TCTD đã chủ động thông báo triển khai các chương trình cho vay với lãi suất ưu đãi để hỗ trợ DN chịu ảnh hưởng bởi dịch.

TS. Nguyễn Trí Hiếu chia sẻ, nếu chậm trễ ban hành và triển khai chính sách sẽ có thể gây ra hậu quả rất lớn, do hiện nay 70% vốn trong nền kinh tế là từ tín dụng của hệ thống ngân hàng. “Nếu không cơ cấu lại nhanh, không khơi thông vốn được... nhiều DN sẽ bị khai tử sau đại dịch. Thông tư 01 đã tạo hành lang pháp lý cho các ngân hàng triển khai các hành động quyết liệt hỗ trợ khách hàng và cũng để duy trì hoạt động ngân hàng thông suốt”, TS. Hiếu cho hay.

Cùng chung quan điểm, ông Trương Gia Bình - Chủ tịch Hiệp hội nông nghiệp số Việt Nam đánh giá, việc ban hành Thông tư 01 của NHNN là hành động kịp thời, thiết thực để hỗ trợ DN đang gặp khó khăn do dịch Covid-19. Cùng với giảm lãi suất cho vay các TCTD cũng đã có chính sách miễn, giảm phí chuyển mạch, giảm mức thu dịch vụ góp phần hỗ trợ tích cực cho khách hàng trong bối cảnh phải thực hiện giãn cách xã hội.

Củng cố hệ thống an toàn, bền vững

Một trong những điểm sáng được giới chuyên môn ghi nhận trong 5 năm qua đó là sức khỏe của hệ thống ngân hàng ngày càng được cải thiện. Có được điều đó là nhờ từ năm 2016 đến nay, NHNN tiếp tục tập trung hoàn thiện khuôn khổ pháp lý, cơ chế chính sách, tạo hành lang pháp lý mới về chuẩn mực an toàn để bảo đảm hệ thống ngân hàng hoạt động an toàn, xử lý các ngân hàng yếu kém trong trật tự, từng bước áp dụng chuẩn mực tiền tệ quốc tế vào hoạt động ngân hàng...

Theo đó, NHNN đã chủ động tham mưu, trình Chính phủ trình Quốc hội thông qua Nghị quyết 42/2017/QH14 ngày 21/6/2017 về thí điểm xử lý nợ xấu (XLNX) của các TCTD; và để triển khai Nghị quyết số 42 có hiệu quả, NHNN đã ban hành Chỉ thị số 06/CT-NHNN ngày 20/7/2017 và các văn bản sửa đổi, bổ sung các quy định về mua, bán và XLNX của VAMC nhằm hoàn thiện cơ sở pháp lý tạo tiền đề để VAMC đẩy mạnh hoạt động mua bán nợ theo cơ chế thị trường.

Nhờ đó, tiến trình XLNX đã ghi nhận những tín hiệu tích cực. Tính từ năm 2012 đến cuối tháng 3/2020, toàn hệ thống các TCTD đã xử lý được 1.076,95 nghìn tỷ đồng nợ xấu (riêng năm 2019 xử lý được 159,7 nghìn tỷ đồng và 3 tháng đầu năm 2020 xử lý được 26,94 nghìn tỷ đồng). Lũy kế từ 15/8/2017 đến cuối tháng 3/2020, cả hệ thống TCTD đã xử lý được 299,8 nghìn tỷ đồng nợ xấu xác định theo Nghị quyết 42.

Song song với đó, NHNN cũng xây dựng Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Các TCTD (Luật số 17/2017/QH14) trình Chính phủ trình Quốc hội thông qua; ban hành các văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành Luật đã hoàn thiện khuôn khổ pháp lý cho hoạt động xử lý, phục hồi các TCTD yếu kém. NHNN cũng đã tiến hành sửa đổi, bổ sung, thay thế các quy định về tổ chức, hoạt động của các TCTD, quy định về tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động ngân hàng theo hướng nâng cao năng lực quản trị, điều hành, tiệm cận với các tiêu chuẩn quốc tế.

Nhờ triển khai các giải pháp quyết liệt, đồng bộ, công tác cơ cấu lại hệ thống các TCTD và XLNX đã đạt được nhiều kết quả tích cực. Quy mô hệ thống các TCTD tiếp tục tăng, năng lực tài chính của các TCTD được củng cố, vốn điều lệ tăng dần qua các năm; chất lượng quản trị, điều hành của các TCTD từng bước được nâng cao để tiệm cận với thông lệ quốc tế. Đến nay, có 76 TCTD đã áp dụng tỷ lệ an toàn vốn theo Thông tư số 41/2016/TT-NHNN, 14 TCTD đề nghị được áp dụng tỷ lệ an toàn vốn theo Thông tư số 22/2019/TT-NHNN. Các TCTD đã ý thức và chú trọng hơn trong việc quản trị rủi ro và tăng cường tính minh bạch trong hoạt động tín dụng.

Theo đánh giá của các chuyên gia kinh tế, những nỗ lực của ngành Ngân hàng trong quá trình thực hiện cơ cấu lại đã góp phần quan trọng bảo đảm an toàn hoạt động ngân hàng, góp phần nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế, thể hiện ở việc các tổ chức xếp hạng tín nhiệm liên tục điều chỉnh tăng triển vọng xếp hạng ngân hàng trong các năm gần đây. “Ngân hàng phải phát triển an toàn, hiệu quả là cơ sở để hỗ trợ nền kinh tế tăng trưởng nhanh và bền vững trong thời gian tới”, một chuyên gia đánh giá.

Minh Khuê

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,50
5,30
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,50
3,50
3,50
5,60
5,80
6,10
6,30
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,00
3,10
3,20
4,40
4,80
5,50
6,20
Sacombank
0,03
-
-
-
3,10
3,20
3,30
4,60
4,90
5,50
6,00
Techcombank
0,03
-
-
-
2,45
2,45
2,65
3,90
3,90
4,50
4,50
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,10
3,10
3,40
4,20
4,40
5,60
5,60
DongA Bank
-
0,20
0,20
0,20
3,40
3,40
3,40
5,30
5,50
5,80
6,10
Agribank
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 22.630 22.860 26.488 27.866 31.023 32.318 204.16 214.87
BIDV 22.655 22.855 26.575 27.683 31.139 32.402 203.99 213.29
VietinBank 22.636 22.856 26.607 27.727 31.399 32.409 204.47 213.47
Agribank 22.665 22.855 26.787 27.493 31.334 32.117 205.87 211.70
Eximbank 22.660 22.840 26.871 27.398 31.480 32.096 206.75 210.81
ACB 22.660 22.840 26.814 27.429 31.401 31.993 206.11 211.05
Sacombank 22.653 22.865 26.953 27.513 31.568 32.084 206.29 212.66
Techcombank 22.642 22.852 26.643 27.863 31.118 32.281 205.24 214.28
LienVietPostBank 22.660 22.840 26.875 27.928 31.504 31.988 207.19 213.97
DongA Bank 22.680 22.840 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
55.900
56.620
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
55.900
56.600
Vàng SJC 5c
55.900
56.620
Vàng nhẫn 9999
50.200
51.100
Vàng nữ trang 9999
49.800
50.800