Cho vay tiêu dùng làm đòn bẩy cầu nội địa

09:23 | 22/05/2020

Các công ty tài chính tiêu dùng, cần rà soát, điều chỉnh chiến lược kinh doanh; phát triển mô hình kinh doanh mới phù hợp với xu hướng thị trường sau dịch bệnh. Trong đó, đặc biệt lưu tâm đến những thay đổi về xu hướng tiêu dùng, thị hiếu mới của khách hàng để phát triển các chính sách, sản phẩm phù hợp.

Tăng tính tuân thủ pháp luật cho vay tiêu dùng
Những tác động mạnh tới cho vay tiêu dùng
Bảo hiểm khoản vay tiêu dùng

Theo ông Trần Quốc Phương - Thứ trưởng Bộ Kế hoạch & Đầu tư, Việt Nam đã đẩy lùi và kiểm soát tốt dịch Covid-19. Đây chính là thời điểm để bắt đầu chuẩn bị các kịch bản, dự kiến sớm các giải pháp để vực dậy nền kinh tế sau khi dịch kết thúc với điểm chung của mô hình phục hồi hiện nay đều là củng cố thị trường trong nước trước, sau đó mới vươn ra thị trường nước ngoài. Trong đó, kích cầu thị trường nội địa thông qua thúc đẩy tiêu dùng chính là một trong những nhiệm vụ trọng tâm cần được ưu tiên trong giai đoạn khởi động lại nền kinh tế hiện nay.

Ảnh minh họa

Thực tế cho thấy, ngay từ trước khi bùng phát dịch Covid-19, ngành tài chính tiêu dùng đã đạt tốc độ tăng trưởng cho vay rất cao, bình quân 29%/năm. Quy mô thị trường tài chính tiêu dùng Việt Nam liên tục tăng mạnh, ước từ mức 646.000 tỷ đồng năm 2016 lên 1 triệu tỷ đồng vào năm 2019. Tuy nhiên, tiềm năng tăng trưởng của thị trường vẫn còn rất lớn bởi tỷ lệ cho vay tiêu dùng trên tổng dư nợ ở Việt Nam mới đạt khoảng 11,4%. Đây là con số còn khá thấp so với bình quân ở các nước phát triển đạt 40-50%.

Ông Phạm Xuân Hòe - Phó Viện trưởng Viện Chiến lược ngân hàng thuộc NHNN Việt Nam phân tích thêm, ước tính cho vay tiêu dùng qua các kênh không chính thức chiếm khoảng 15-20% tổng dư nợ nền kinh tế (1,16-1,55 triệu tỷ đồng), cao hơn một chút so với doanh số cho vay qua ngân hàng và công ty tài chính tiêu dùng. Như vậy, dư địa của thị trường cho vay tiêu dùng sẽ còn khá lớn khoảng 1,5- 2 triệu tỷ đồng, chưa kể hàng năm tổng dư nợ cho vay nền kinh tế tăng thêm khoảng 14% thì cho vay tiêu dùng cũng sẽ tăng theo.

Trong bối cảnh nền kinh tế phục hồi sau dịch Covid-19, ông Hoè khuyến nghị cần thực hiện đồng bộ các giải pháp để kích cầu nội địa thông qua cho vay tiêu dùng. Trước hết, cần tạo ra thu nhập cho người dân thông qua việc khẩn trương chi hỗ trợ 62.000 tỷ đồng cho người mất việc, người  nghèo duy trì cuộc sống; giải ngân gói hỗ trợ 16.000 tỷ đồng lãi suất 0% từ Ngân hàng Chính sách xã hội để DN trả lương cho người lao động; đồng thời kích cầu tạo việc làm có thu nhập từ gói đầu tư công 700.000 tỷ đồng…

Các NHTM cũng như công ty tài chính thiết kế các gói cho vay tiêu dùng với món nhỏ, lãi suất hợp lý, thời gian trả nợ kéo dài hơn so trước kia. Song song với đó là giáo dục tài chính cá nhân cho người lao động; thực hiện các giải pháp như công bố điểm tín dụng cá nhân cho bản thân họ, tích hợp các yếu tố tính điểm chuẩn để gia tăng trách nhiệm người vay không vay bằng mọi giá. Ngoài ra, ông Hòe nhấn mạnh việc chấn chỉnh hoạt động cho vay cầm đồ, có chế tài xử lý tội cho vay nặng lãi, xử phạt nặng các hình thức cho vay bất hợp pháp.

Ủng hộ quan điểm cần kích thích cho vay tiêu dùng, song PGS. TS. Đặng Ngọc Đức - Viện trưởng Viện Ngân hàng tài chính, Đại học Kinh tế quốc dân cũng lưu ý, cho vay tiêu dùng ở các nước phát triển cũng như Việt Nam chủ yếu là cho vay tín chấp, vì vậy luôn phải đối diện với nguy cơ rủi ro cao.

Bên cạnh đó, khác với các nước phát triển ở châu Âu và Mỹ, cho vay tiêu dùng thường tập trung vào 4 sản phẩm quan trọng, nhưng ở Việt Nam chỉ có 2 sản phẩm phổ biến là cho vay mua nhà (đầu tư bất động sản), sửa nhà chiếm tỷ lệ cao với gần 50% dư nợ tín dụng tiêu dùng, và vay để mua ô tô khoảng 10%. Trong khi 2 sản phẩm khác là thẻ tín dụng và cho vay sinh viên lại chưa phổ biến. Ngoài các khoản vay trên, các khoản vay có mục đích khác hiện vẫn chiếm tỷ trọng khá khiêm tốn. Do vậy, việc mở rộng dư nợ tín dụng tiêu dùng nói chung sẽ trở nên khó khăn hơn so với giai đoạn trước.

TS. Cấn Văn Lực - Chuyên gia tài chính – ngân hàng cũng chia sẻ, cần tạo điều kiện cho các công ty tài chính quy mô vừa và nhỏ phát triển, nhằm tăng tính cạnh tranh, hạn chế rủi ro tập trung vào số ít công ty tài chính lớn. Điều này sẽ giúp giảm lãi suất, tăng đa dạng về sản phẩm-dịch vụ, mang lại nhiều lợi ích hơn cho người tiêu dùng cũng như nền kinh tế. Đồng thời, nhanh chóng hoàn thiện hệ thống cơ sở dữ liệu dân cư quốc gia, để không chỉ giúp cho các công ty tài chính hoạt động dễ dàng và hiệu quả hơn, mà còn giúp cho tất cả các tổ chức tài chính khác đưa ra được những sản phẩm, dịch vụ dựa trên công nghệ số (tài chính số, ngân hàng số, nhận diện số, phân tích khách hàng…) để mang lại nhiều tiện ích và trải nghiệm tốt hơn cho khách hàng.

Ông Lực cũng khuyến nghị các công ty tài chính tiêu dùng, cần rà soát, điều chỉnh chiến lược kinh doanh; phát triển mô hình kinh doanh mới phù hợp với xu hướng thị trường sau dịch bệnh. Trong đó, đặc biệt lưu tâm đến những thay đổi về xu hướng tiêu dùng, thị hiếu mới của khách hàng để phát triển các chính sách, sản phẩm phù hợp.

Lan Hương

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,50
5,60
7,00
7,00
VietinBank
0,10
0,30
0,30
0,30
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
Eximbank
0,30
0,80
0,80
0,80
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
7,70
8,40
ACB
0,30
0,80
0,80
0,80
5,00
5,00
5,00
6,30
6,40
6,80
7,60
Sacombank
0,30
-
-
-
4,90
4,95
5,00
6,30
6,40
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,00
4,00
4,00
5,90
5,50
6,00
6,10
LienVietPostBank
0,10
0,80
0,80
0,80
4,90
4,90
5,00
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,00
5,00
5,00
7,00
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,40
6,80
6,80
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.140 23.350 24.785 26.201 28.371 29.555 212,92 224,08
BIDV 23.180 23.360 25.188 26.023 28.700 29.297 212,57 221,15
VietinBank 23.163 23.353 25.054 26.020 28.678 29.318 213,68 221,38
Agribank 23.260 23.410 25.100 25.651 28.668 29.273 215,15 220,06
Eximbank 23.160 23.330 25.169 25,625 28.772 29.292 216,19 220,10
ACB 23.180 23.350 25.191 25.590 28.911 29.296 216,33 219,77
Sacombank 23.168 23.378 25.214 25.771 28.888 29.397 215,79 222,15
Techcombank 23.165 23.365 24.937 25.922 28.492 29.451 214,75 221,88
LienVietPostBank 23.170 23.340 24,968 25.948 28.651 29.622 214,67 225,88
DongA Bank 23.210 23.330 25.160 25.570 28.750 29.230 212,70 219,40
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
48.600
49.070
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
48.550
49.000
Vàng SJC 5c
48.550
49.020
Vàng nhẫn 9999
47.600
48.350
Vàng nữ trang 9999
47.250
48.050