Chủ tịch Fed Atlanta: Lãi suất có khả năng tăng trở lại vào nửa cuối năm sau

11:04 | 12/01/2021

Lãi suất có thể tăng sớm hơn dự báo vì nền kinh tế Mỹ phục hồi nhanh hơn dự kiến​, Raphael Bostic, Chủ tịch Cục Dự trữ Liên bang (Fed) khu vực Atlanta, nói hôm thứ Hai.

chu tich fed atlanta lai suat co kha nang tang tro lai vao nua cuoi nam sau

Trong khi hầu hết các đồng nghiệp của ông không nhìn thấy khả năng tăng lãi suất cho đến ít nhất là năm 2023, Bostic lại cho rằng các biện pháp khẩn cấp mà Fed đã thực hiện để hạn chế tác động từ đại dịch có thể bắt đầu được rút bớt trong vòng hai năm tới, nếu không muốn nói là có thể sớm hơn nữa.

“Tôi nghĩ rằng có khả năng nền kinh tế có thể phục hồi trở lại mạnh mẽ hơn so với dự đoán”, ông nói trong một phiên hỏi đáp trực tuyến của Atlanta Rotary Club. “Nếu thực tế đó diễn ra, tôi sẵn sàng ủng hộ việc rút bớt và điều chỉnh lại chính sách hỗ trợ, và sau đó xem xét việc thay đổi lãi suất chính sách”.

“Nhưng, tôi không nhìn thấy khả năng điều đó sẽ xảy ra trong năm 2021 này. Có rất nhiều điều sẽ cần phải diễn ra để đến được với viễn cảnh đó”, ông nói thêm. “Có lẽ là vào năm 2022, nửa sau của năm 2022, hoặc thậm chí là năm 2023, điều đó mới hiện thực”.

Tại cuộc họp vào tháng 12, các thành viên của Ủy ban Thị trường Mở Liên bang (FOMC) đã đưa ra dự báo của cá nhân họ cho các năm tới. Kỳ vọng trung bình đối với lãi suất cho vay chuẩn của Fed vẫn là duy trì trong phạm vi mục tiêu hiện tại 0% đến 0,25% cho đến năm 2023, với dự đoán dài hạn hơn là 2,5%.

Trong số 17 thành viên FOMC đã đệ trình các mục tiêu chính sách từ nền tảng dự báo của họ, không có thành viên nào đưa ra khả năng tăng lãi suất vào năm 2021, và chỉ một thành viên cho rằng lãi suất nên tăng trong năm 2022. Với năm tiếp theo, ba thành viên đề xuất lãi suất chính sách tăng 25 điểm cơ bản, trong khi chỉ một người đề xuất mức tăng cao hơn con số trên 50 điểm cơ bản và một người đề xuất ​​mức tăng 100 điểm cơ bản qua bốn lần tăng.

Phần lớn các quan chức Fed tỏ ra thận trọng với nhận định về triển vọng kinh tế, riêng Bostic lưu ý rằng tăng trưởng gần như phụ thuộc hoàn toàn vào tốc độ triển khai tiêm chủng và khả năng kiểm soát dịch bệnh.

“Mức độ suy giảm kinh tế phụ thuộc hoàn toàn vào cách chúng ta ứng phó với cuộc khủng hoảng sức khỏe cộng đồng hiện nay", ông nói. “Việc dự báo triển vọng kinh tế trong năm nay chính là dự báo về mức độ phổ cập vắc-xin đến người dân, vì vậy chúng ta đang ở thời điểm không còn phải quá thận trọng khi dự báo về các hoạt động kinh tế của mình”.

Bostic cho biết ông sẽ xem xét ba dữ liệu để định hướng cho nhận định của mình về thời điểm Fed có thể bắt đầu rút lại các chính sách áp dụng trong thời kỳ khủng hoảng. Ngoài lãi suất gần bằng 0, Fed đã mở rộng bảng cân đối của mình thêm hơn 3 nghìn tỷ USD, thực hiện một loạt các chương trình cho vay và tăng thanh khoản. Một số chương trình trong số đó đã chấm dứt vào cuối năm 2020.

Ba dữ liệu Bostic nói đến bao gồm: mất việc làm tạm thời và vĩnh viễn; sức khỏe của các doanh nghiệp nhỏ; và lòng tin của người tiêu dùng. Tuy nhiên, trên tất cả là diễn biến của dịch bệnh và mức độ thành công của những nỗ lực kiểm soát nó.

M.Hồng

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,00
3,00
3,30
3,90
3,90
5,60
5,40
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,50
3,50
3,50
5,60
5,80
7,20
8,40
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,00
3,10
3,30
4,40
5,00
6,20
6,20
Sacombank
-
-
-
-
3,30
3,40
3,50
5,00
5,10
5,70
6,00
Techcombank
0,03
-
-
-
2,65
2,75
2,85
4,20
4,20
4,40
4,90
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,70
3,70
3,80
4,60
4,80
6,20
6,20
DongA Bank
-
0,20
0,20
0,20
3,60
3,60
3,60
5,50
5,70
6,00
6,30
Agribank
0,10
-
-
-
3,60
3,60
3,60
5,50
5,70
6,00
6,30
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 22.955 23.165 27.591 28.506 30.510 31.785 215,75 226,99
BIDV 22.975 23.175 27.760 28.872 30.667 31.563 217,28 226,03
VietinBank 22.934 23.177 27.852 28.957 30.988 31.998 217,30 226,30
Agribank 22.970 23.165 27.785 28.479 30.918 31.669 219,50 225,66
Eximbank 22.970 23.160 27.939 28.461 30.994 31.573 220,96 225,08
ACB 22.980 23.160 27.958 28.460 31.172 31.604 220,83 225,02
Sacombank 22.977 23.189 28.038 28.593 31.150 31.655 220,76 227,12
Techcombank 22.946 23.171 27.717 28.940 30.710 31.855 219,56 228,84
LienVietPostBank 22.970 23.150 27.067 27.571 30.322 31.186 214,74 218,67
DongA Bank 22.990 23.150 27.930 28.430 31.030 31.580 217,40 224,40
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
55.950
56.520
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
55.950
56.500
Vàng SJC 5c
55.950
56.520
Vàng nhẫn 9999
54.800
55.350
Vàng nữ trang 9999
54.450
55.150