Cổ phiếu ngành Đường: Đâu là điểm hấp dẫn?

09:00 | 21/09/2020

Đối mặt với nhu cầu tiêu thụ đường cả trong và ngoài nước sụt giảm, một số DN vẫn có kết quả kinh doanh khá tốt. Đơn cử như Công ty TTC - Biên Hòa (SBT), kết thúc năm tài chính 2019-2020 (chu kỳ kế toán tính từ quý 3 năm ngoái đến quý 2 năm 2020), lợi nhuận ròng hợp nhất bất ngờ tăng mạnh 113 tỷ đồng, tương đương với mức tăng 43%.

Ngành mía đối mặt với “sinh tử”
Ngành mía đường: Chống khủng hoảng kép và cần giải pháp dài hạn

Giải thích cho kết quả ấn tượng này, lãnh đạo SBT cho biết là nhờ sản lượng tiêu thụ qua các kênh phân phối cải thiện thêm 41%. Bên cạnh đó công ty tăng tỷ trọng các dòng sản phẩm có chất lượng cao, tạo giá trị gia tăng lớn, đồng thời thực hiện kế hoạch giảm bớt chi phí quản lý và bán hàng, tiết giảm lãi vay. Các kế sách đó đã phát huy hiệu quả trong bối cảnh đại dịch Covid-19 tác động tiêu cực đến nông sản nói chung và ngành đường nói riêng.

Niên vụ 2019/2020 thực sự là một năm khó khăn đối với ngành đường Việt Nam. Theo Hiệp hội Mía Đường Việt Nam (VSSA), gần 1/3 số nhà máy đường tại Việt Nam đã phải đóng cửa trong niên vụ 2019/2020. Tính đến ngày 5/5/2020, tất cả 28 nhà máy đã kết thúc vụ ép mía của niên vụ 2019/2020 với sản lượng lũy kế đạt 7,39 triệu tấn mía (giảm 39,4% so cùng kỳ năm ngoái) và luyện được 769.169 tấn đường mía các loại (giảm 34,3% so cùng kỳ năm ngoái), mức thấp nhất trong 19 năm trở lại đây do diễn biến thời tiết không thuận lợi và áp lực cạnh tranh với đường và chất tạo ngọt nhập khẩu. 

Đặc biệt kể từ đầu năm nay, Hiệp định thương mại hàng hóa ASEAN (ATIGA) chính thức có hiệu lực tại Việt Nam, quy định xóa bỏ toàn bộ hạn ngạch nhập khẩu đường từ các nước ASEAN và thuế nhập khẩu chỉ ở mức 5%. Ở khu vực, đường Thái Lan là đối thủ chính của ngành đường Việt Nam, khi là quốc gia đứng thứ 4 thế giới về sản xuất đường. Mỗi năm, sản lượng đường lậu giá rẻ từ Thái Lan về Việt Nam ước tính chiếm hơn 30% nhu cầu sử dụng đường trong nước, tác động tiêu cực tới giá đường nội địa. 

Trong bối cảnh thị trường ngày càng cạnh tranh khốc liệt, các DN đường trong nước buộc phải tìm cách thay đổi chính mình. Theo nhận định của Công ty chứng khoán FPTS, có một số thương hiệu trong ngành có khả năng cạnh tranh với đối thủ ngoại như SBT, QNS (đường Quảng Ngãi) và SLS (mía đường Sơn La). 

Cụ thể, SLS có khả năng cạnh tranh về giá khi có giá thành sản xuất ở mức thấp, tiệm cận với đường sản xuất tại Thái Lan. Trong khi đó, mảng sữa đậu nành tiếp tục là động lực tăng trưởng chính và đóng góp hơn 80% vào cơ cấu lợi nhuận của QNS trong niên vụ vừa qua.

Hay như SBT có khả năng cạnh tranh về sản phẩm khi sở hữu bộ sản phẩm đa dạng với nhiều phân khúc, bao gồm các sản phẩm đường cao cấp đem lại giá trị gia tăng cao. SBT cũng mở rộng nông trại mía đường tại Attapeu (Lào) thêm 3.000 ha tập trung vào mía organic. Dự kiến đến niên độ 2024/2025, công ty sẽ có gần 12.000 hecta, thu hoạch hoàn toàn là mía organic, với tổng sản lượng là 784 ngàn tấn mía organic và hơn 100.000 tấn đường organic tăng hơn 766% sản lượng đường organic so với niên độ 2019/2020, tạo động lực tăng trưởng mới cho công ty.

Bên cạnh đó, Hiệp định FTA Việt Nam - EU chính thức có hiệu lực sẽ mở thêm cơ hội cho ngành đường trong nước nếu có chiến lược cạnh tranh phù hợp. Theo hiệp định này, hạn ngạch 20.000 tấn đường các loại và 400 tấn đường đặc biệt từ Việt Nam sang EU sẽ được miễn thuế. Thuế xuất khẩu ngoài hạn ngạch vẫn được tính với thuế suất 339 EUR/tấn đối với đường thô và 419 EUR/tấn đối với đường luyện.

Theo các chuyên gia, do mức tiêu thụ đường bình quân đầu người tại EU đã ở mức cao 35 kg/người/năm, cao hơn mức trung bình thế giới 22,6 kg/người/năm). Nhu cầu sử dụng đường của thị trường này đang hướng đến các sản phẩm cao cấp như đường organic, đường ăn kiêng, đường có bổ sung thêm dưỡng chất… Đây là những sản phẩm có giá bán cao, tỷ suất lợi nhuận đạt từ 35% - 40%. “Chúng tôi đánh giá thị trường EU sẽ đem lại cơ hội lớn cho các DN có bộ sản phẩm đường và sau đường đa dạng, đạt tiêu chuẩn cao về chất lượng”, Công ty FPTs nhận định.

Nam Minh

Nguồn:

Tin nổi bật

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,10
5,80
5,90
BIDV
0,10
-
-
-
3,30
3,30
3,60
4,20
4,20
5,80
5,80
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,30
3,30
3,60
4,20
4,20
5,80
5,80
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,60
3,50
3,50
5,60
5,80
7,20
8,40
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,60
3,80
3,90
5,10
5,30
5,70
6,50
Sacombank
-
-
-
-
3,50
3,60
3,70
5,20
5,40
6,00
6,30
Techcombank
0,10
-
-
-
2,55
2,65
2,75
4,30
4,10
4,80
4,90
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,70
3,70
3,80
4,60
4,80
6,20
6,20
DongA Bank
-
0,20
0,20
0,20
3,83
3,83
3,83
6,55
6,80
7,15
7,20
Agribank
0,10
-
-
-
3,50
3,50
3,80
4,40
4,50
6,00
6,00
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.060 23.270 26.695 28.056 29.810 31.055 209,94 219,98
BIDV 23.090 23.270 27.001 28.079 30.133 30.828 211,11 219,65
VietinBank 23.046 23.276 27.131 28.156 30.290 31.300 211,26 219,76
Agribank 23.085 23.255 27.052 27.645 30.171 30.819 211,09 219,19
Eximbank 23.080 23.260 27.118 27.588 30.283 30.809 215,11 218,84
ACB 23.090 23.260 27.148 27.622 30.479 30.889 214,57 218,55
Sacombank 23.077 23..289 27.219 27.773 30.436 30.947 214,46 220,84
Techcombank 23.072 23.272 26.907 28.120 30.003 31.136 213,40 222,52
LienVietPostBank 23.090 23.270 27.067 27.571 30.322 30.186 214,74 218,67
DongA Bank 23.120 23.250 27.100 27.580 30.260 30.800 211,60 218,40
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
55.950
56.420
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
55.950
56.400
Vàng SJC 5c
55.950
56.420
Vàng nhẫn 9999
53.600
54.100
Vàng nữ trang 9999
53.100
53.800