Đẩy nhanh quá trình chuyển đổi số để tăng năng suất

09:39 | 07/05/2021

Đặt trong bối cảnh cuộc CMCN 4.0 hiện nay, việc đẩy nhanh quá trình chuyển đổi số trong doanh nghiệp, trong nền kinh tế cũng sẽ là một trong những giải pháp quan trọng để thúc đẩy năng suất lao động.

day nhanh qua trinh chuyen doi so de tang nang suat Nâng cao năng suất lao động: Cần chủ động hoạch định chiến lược
day nhanh qua trinh chuyen doi so de tang nang suat Cần tiếp tục nâng cao năng suất lao động qua áp dụng công nghệ cao và chuyển đổi mô hình phát triển
day nhanh qua trinh chuyen doi so de tang nang suat Kinh tế số cải thiện mạnh mẽ năng suất lao động, tăng sức chống đỡ trước các cú sốc lớn

Chìa khóa để phát triển

Việt Nam đặt mục tiêu đến năm 2030 sẽ trở thành nước đang phát triển, có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao, đến năm 2045, phấn đấu trở thành nước phát triển, thu nhập cao. Để thực hiện được những mục tiêu khát vọng này, theo TS. Vũ Tiến Lộc, Chủ tịch Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI), chìa khóa chính là nâng cao năng suất lao động.

Việt Nam đã có nhiều nỗ lực mạnh mẽ nhằm cải thiện điều này trong những năm gần đây, nhờ đó năng suất lao động của Việt Nam đã có những cải thiện đáng kể, cả về giá trị và tốc độ tăng năng suất lao động.

day nhanh qua trinh chuyen doi so de tang nang suat
Tăng năng suất lao động để tăng tỷ trọng giá trị được tạo ra

Theo đó, năng suất lao động năm 2020 của Việt Nam tính theo giá so sánh năm 2010 chỉ tăng 5,4% (so với mức tăng 6,2% năm 2019, và ở mức thấp nhất trong 5 năm gần đây), đạt mức 117,94 triệu đồng/lao động theo giá hiện hành (tương đương 5.081 USD/lao động). Mức tăng này cao hơn khi so sánh với các quốc gia trong khu vực.

Giai đoạn năm 2016 - 2020, năng suất lao động của Việt Nam được cải thiện rõ nét với mức tăng bình quân 5,8%/năm, cao hơn giai đoạn 2011 - 2015 (4,3%) và vượt mục tiêu đề ra (5%). Đóng góp của năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) bình quân 5 năm đạt khoảng 45,2% (mục tiêu đề ra là 30 - 35%). Mô hình tăng trưởng dần chuyển dịch từ chiều rộng sang chiều sâu, giảm dần sự phụ thuộc vào khai thác tài nguyên, xuất khẩu thô, lao động giá rẻ, mở rộng tín dụng… từng bước chuyển sang dựa vào ứng dụng khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo.

Tuy nhiên, mức tăng này chưa đủ nhanh để có thể thu hẹp khoảng cách với các quốc gia khác. Năng suất lao động của Việt Nam năm 2020, theo ước tính của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO), thấp hơn 7 lần so với Malaysia, 4 lần so với Trung Quốc; 3 lần so với Thái Lan, 2 lần so với Philippines và 26 lần so với Singapore.

Báo cáo của Tổ chức Năng suất châu Á (APO) cũng cho thấy, năng suất lao động Việt Nam tụt hậu so với Nhật Bản 60 năm, so với Malaysia 40 năm và Thái Lan 10 năm. Vì vậy, Việt Nam cần phải nỗ lực mạnh mẽ hơn nữa trong việc cải thiện năng suất quốc gia.

Không giống như các nước đã phát triển cao về kinh tế, Việt Nam chưa trải qua giai đoạn tăng lên rất nhanh về năng suất, trong khi đây là điều cho phép một nền kinh tế cất cánh đến thu nhập cao, Chủ tịch VCCI lưu ý.

Báo cáo Năng suất Việt Nam 2020 (do Viện Nghiên cứu Kinh tế và Chính sách VEPR và Viện Chính sách Quốc gia Nhật Bản xây dựng) công bố mới đây cho biết, năng suất lao động Việt Nam đã và đang tăng qua các năm nhưng với tốc độ nhỏ và không ổn định. Cụ thể, giai đoạn đầu (1991 - 1995), nhờ tích cực xóa bỏ các rào cản thị trường và hội nhập một cách quyết đoán vào cộng đồng quốc tế, cởi trói cho hoạt động của doanh nghiệp để tăng trưởng, năng suất lao động Việt Nam đạt mức tăng đỉnh 7,13% vào năm 1995.

Sau đó có sự chững lại ở giai đoạn 2 (1996-2012), năng suất lao động tăng trưởng chậm lại, tương ứng mức tăng năng suất 4,0%. Đến giai đoạn 3 (2013 đến nay), tăng trưởng năng suất lao động dần bắt kịp tốc độ của giai đoạn đầu tiên (cho đến khi đại dịch Covid-19 tấn công nền kinh tế Việt Nam cũng như toàn cầu vào năm 2020), tăng trưởng năng suất phục hồi mức trung bình 5,5%.

Xét theo nhóm ngành kinh tế, khu vực công nghiệp và xây dựng năng suất lao động cao nhất, khu vực nông, lâm và thủy sản có mức năng suất lao động thấp nhất. Song, phân tích sâu hơn, nhóm nghiên cứu nhận thấy, tăng trưởng năng suất lao động của ngành công nghiệp chế biến chế tạo và xây dựng (những ngành đóng góp gần 42% vào GDP) lại không ấn tượng theo các tiêu chuẩn toàn cầu, thậm chí tăng trưởng bắt đầu suy giảm. Trong khi đây là lĩnh vực Việt Nam mong muốn công nghiệp hóa nhiều nhất, nhanh nhất, thu hút thêm nhiều nhà đầu tư nước ngoài đến mở rộng sản xuất.

Đẩy nhanh quá trình chuyển đổi số

PGS-TS. Nguyễn Đức Thành cho rằng, giai đoạn trước năm 2000, FDI đổ vào các lĩnh vực thâm dụng vốn và công nghệ chiếm đa số (khai thác mỏ, năng lượng, xe máy, ô tô, khuôn đúc...). Sau đó, các lĩnh vực quy mô lớn, thâm dụng lao động, định hướng xuất khẩu chiếm ưu thế (may mặc, giày dép, lắp ráp điện tử...). Các hoạt động này tạo giá trị gia tăng trong nước thấp và năng suất lao động thấp.

Các doanh nghiệp FDI cũng coi Việt Nam là nơi làm các công việc đơn giản và không có lý do gì để điều chỉnh chiến lược này. Nếu tiền lương tiếp tục tăng, FDI sẽ không nâng cấp mà chỉ đơn giản là rời khỏi Việt Nam - một tình huố́ng “bẫy thu nhập trung bình” điển hình. Cùng với đó, thu hút FDI cũng không tự động củng cố các doanh nghiệp trong nước hoặc kích hoạt sự tham gia vào các chuỗi giá trị toàn cầu.

Việc các nhà đầu tư nước ngoài lựa chọn Việt Nam nhờ lực lượng lao động trẻ và rẻ với các quy trình giản đơn cho thấy Việt Nam chưa thành công trong giáo dục và đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao - những người tạo ra giá trị cao (các nhà khoa học, nhà quản lý, kỹ sư). Việt Nam thậm chí đang thiếu hụt nghiêm trọng và lâu dài nguồn nhân sự này và phải vượt qua tư duy tiêu cực này nếu muốn tiến lên trong quá trình công nghiệp hóa, PGS.TS. Nguyễn Đức Thành nhấn mạnh.

Trong chuỗi giá trị toàn cầu, sự tham gia của Việt Nam đang tăng lên đáng kể, ngày càng có nhiều giá trị được tạo ra ở Việt Nam về mặt quy mô. Nhưng nếu xét về tỷ trọng, suốt trong giai đoạn từ năm 1995-2015, tỷ trọng giá trị được tạo ra trong nước thậm chí còn giảm.

Chia sẻ về các công cụ năng suất đã tạo ra những kết quả tốt tại Nhật Bản cũng như nhiều nước châu Á khác và trên thế giới, GS. Kenichi Ohno (Viện Nghiên cứu Chính sách quốc gia Nhật Bản) cho rằng Việt Nam nên học hỏi các công cụ này một cách cẩn trọng, có chọn lọc và điều chỉnh phù hợp với thực tiễn của mình để thực hành theo trình tự thích hợp. Nếu Việt Nam sẵn sàng, Nhật Bản tiếp tục hợp tác

Đặt trong bối cảnh cuộc CMCN 4.0 hiện nay, việc đẩy nhanh quá trình chuyển đổi số trong doanh nghiệp, trong nền kinh tế cũng sẽ là một trong những giải pháp quan trọng để thúc đẩy năng suất lao động. Theo kết quả nghiên cứu của trường Đại học Kinh tế Quốc dân, tính cho cả giai đoạn 2020 - 2030, trung bình mỗi năm, chỉ riêng kinh tế số đóng góp từ 7% - 16,5% trong 100% tốc độ tăng trưởng năng suất lao động tổng thể, đủ thấy vai trò của kinh tế số là rất quan trọng đến năng suất và hiệu quả của nền kinh tế, đây chính là động lực mới cho cải thiện nhanh chóng năng suất lao động, TS. Vũ Tiến Lộc chia sẻ.

Hữu An

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
2,90
2,90
3,20
3,80
3,80
5,50
5,30
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,50
3,50
3,50
5,60
5,80
6,20
6,30
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,00
3,10
3,20
4,40
4,80
5,50
6,20
Sacombank
-
-
-
-
3,20
3,50
3,60
5,00
5,20
5,70
6,30
Techcombank
0,03
-
-
-
2,45
2,45
2,65
3,90
3,90
4,50
4,50
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,10
3,10
3,40
4,30
4,50
5,70
5,80
DongA Bank
-
0,20
0,20
0,20
3,40
3,40
3,40
5,30
5,50
5,80
6,10
Agribank
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 22.820 23.050 27.591 28.506 30.510 31.785 215,75 226,99
BIDV 22.850 23.050 27.760 28.872 30.667 31.563 217,28 226,03
VietinBank 22.831 23.051 27.852 28.957 30.988 31.998 217,30 226,30
Agribank 22.855 23.045 27.785 28.479 30.918 31.669 219,50 225,66
Eximbank 22.850 23.030 27.939 28.461 30.994 31.573 220,96 225,08
ACB 22.850 23.030 27.958 28.460 31.172 31.604 220,83 225,02
Sacombank 22.850 23.062 28.038 28.593 31.150 31.655 220,76 227,12
Techcombank 22.832 23.052 27.717 28.940 30.710 31.855 219,56 228,84
LienVietPostBank 22.850 23.030 27.067 27.571 30.322 31.186 214,74 218,67
DongA Bank 22.870 23.030 27.930 28.430 31.030 31.580 217,40 224,40
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
56.550
57.170
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
56.550
57.150
Vàng SJC 5c
56.550
57.170
Vàng nhẫn 9999
52.600
53.200
Vàng nữ trang 9999
52.200
52.900