Để chuỗi giá trị sản phẩm tre Việt Nam phát triển bền vững

14:08 | 05/08/2022

Năm 2021, quy mô thị trường tre toàn cầu đã đạt 57,86 tỷ USD, dự kiến ​​sẽ đạt 82,90 tỷ USD vào năm 2028. 

de chuoi gia tri san pham tre viet nam phat trien ben vung
Ảnh minh họa - Nguồn ảnh: mcnv.org

Tre là loài thực vật phát triển nhanh, cung cấp nguồn tài nguyên bền vững và có thể tái tạo được, lại có thể thay thế gỗ tự nhiên. Tre góp phần ngăn chặn xói mòn đất và phục hồi đất bị thoái hóa, hấp thụ nhiều hơn 40% carbon dioxide so với các loài khác, giảm thiểu tác động biến đổi khí hậu, tăng thu nhập thông qua các khoản tín dụng carbon.

Cây tre cũng đóng vai trò quan trọng trong sinh kế của nông dân địa phương, góp phần xóa đói giảm nghèo. Tre đang là nguồn nguyên liệu phục vụ cho trên 600 làng nghề mây tre đan, bà Nguyễn Thị Thanh Huyền, Điều phối viên dự án Phát triển bền vững và toàn diện chuỗi giá trị nghêu/tre ở Việt Nam cho biết.

Trong điều kiện rừng tự nhiên bị cấm khai thác, rừng trồng sinh trưởng chậm thì các sản phẩm từ tre là một giải pháp tốt thay thế các sản phẩm sản xuất từ gỗ.

Với khoảng 30 chi và 216 loài tre, một số loài hiện đang mang lại giá trị kinh tế cao như luồng, lung, trúc sào, lồ ô, nứa, vầu, lồ ô, bương, tầm vông, tre gai… Hiện, cả nước có khoảng 1,6 triệu ha tre, phân bố đều khắp các tỉnh, với trữ lượng ước tính khai thác hàng năm từ 500 đến 600 triệu cây, tương đương 2,5 đến 3 triệu tấn tre.

Song, Phó Cục trưởng Cục Kinh tế hợp tác và Phát triển nông thôn (Bộ NN&PTNT) Nguyễn Thị Hoàng Yến băn khoăn rằng, hiện nay có rất ít nguồn giống tốt và đang có dấu hiệu suy thoái giống. Diện tích đang bị thu hẹp, trình độ canh tác thấp, quy mô sản xuất manh mún, nhỏ lẻ. Hạ tầng phục vụ sản xuất chưa được đầu tư; công nghệ chế biến lạc hậu so với thế giới.

Bên cạnh đó là thiếu các chính sách hỗ trợ phát triển và sản xuất kinh doanh; vốn đầu tư ban đầu cao, quy mô sản xuất manh mún, nhỏ lẻ; sản phẩm lưu thông, tiêu thụ trên thị trường nội địa chủ yếu là sản phẩm thô, tươi; sản phẩm còn chưa đa dạng, chưa quan tâm đến quản lý chất lượng. Thiếu sự gắn kết giữa các tác nhân trong chuỗi cả về chiều dọc và chiều ngang. công tác xúc tiến thương mại, quảng bá, giới thiệu sản phẩm tre còn yếu và thiếu thông tin thị trường.

Có chung nhận định, Vụ trưởng Vụ Phát triển sản xuất lâm nghiệp (Tổng cục Lâm nghiệp - Bộ NN&PTNT ) Nguyễn Văn Diện đánh giá, với 251 doanh nghiệp chế biến tre trên cả nước, có đến 95% là doanh nghiệp vừa và nhỏ; doanh nghiệp có quy mô vừa và lớn (trên 15 tỷ đồng) chiếm khoảng 5%.

Hiện, sản phẩm từ tre Việt Nam xuất khẩu đến gần 100 quốc gia và vùng lãnh thổ, trong đó 5 thị trường xuất khẩu chính là Hoa Kỳ, Nhật Bản, Đức, Pháp, Hà Lan. Tuy nhiên, ứng dụng khoa học công nghệ của các doanh nghiệp chưa được chú trọng.

Dù tiềm năng của ngành tre Việt là rất lớn, nhưng vùng nguyên liệu chưa thực sự tập trung. Hoạt động chế biến ngành hàng tre đang khá manh mún. Đặc biệt, chưa có bộ tiêu chuẩn và hành lang pháp lý riêng cho việc trồng, chế biến và sử dụng nguyên liệu tre trong hoạt động kinh tế tại Việt Nam tính đến thời điểm hiện nay, đang là rào cản lớn khiến chuỗi sản phẩm ngành tre chưa thể kết nối và phát huy hết tiềm năng.

Từ thực tế trên, Thứ trưởng Bộ NN&PTNT Trần Thanh Nam nhìn nhận, hiện nay nhiều nơi chưa đánh giá hết được vai trò, vị trí, giá trị của cây tre. Ngoài ra, sự gắn kết giữa người trồng - doanh nghiệp chế biến, xuất khẩu và tiêu thụ trong nước còn rời rạc chưa tập trung, công tác xây dựng các vùng nguyên liệu lớn phục vụ cho tiêu dùng trong nước và xuất khẩu chưa được quan tâm đúng mức.

Để ngành tre sản xuất, chế biến và kinh doanh ổn định, phát triển bền vững, xuất khẩu sản phẩm từ tre không dừng lại ở con số khoảng 300 - 400 triệu USD/năm như hiện nay, cần sớm nghiên cứu cải tạo giống tre và áp dụng các phương pháp trồng, chế biến theo công nghệ cao vào sản xuất.

Bên cạnh xây dựng lại vùng nguyên liệu tre tập trung, hiện Bộ NN&PTNT đang đề xuất lên Bộ Nội vụ thành lập Hiệp hội Tre Việt Nam. Đây sẽ là một trong những cơ sở, tiền đề gắn kết ngành tre theo chuỗi giá trị cũng như phát triển ngành công nghiệp chế biến tre trong tương lai.

CK

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,40
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Cake by VPBank
0,10
-
-
-
3,80
-
3.90
6.90
-
7.50
7.60
ACB
-
0,20
0,20
0,20
4,00
4,10
4,20
5,50
5,70
6,20
6,90
Sacombank
-
-
-
-
4,10
4,30
4,40
5,40
5,70
6,00
6,40
Techcombank
0,03
-
-
-
3,25
3,45
3,45
5,25
5,25
5,65
5,75
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
4,50
4,50
4,80
5,10
5,10
5,60
5,60
DongA Bank
0,20
0,20
0,20
0,20
3,80
3,80
3,80
6,60
6,70
7,20
7,50
Agribank
0,20
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,20
0,50
0,50
0,50
4,50
4,60
4,70
6,00
6,10
6,30
6,50
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.535 23.845 26.488 27.866 31.023 32.318 204.16 214.87
BIDV 23.575 23.855 26.575 27.683 31.139 32.402 203.99 213.29
VietinBank 23.553 23.853 26.607 27.727 31.399 32.409 204.47 213.47
Agribank 23.555 23.845 26.787 27.493 31.334 32.117 205.87 211.70
Eximbank 23.570 23.840 26.871 27.398 31.480 32.096 206.75 210.81
ACB 23.570 23.900 26.814 27.429 31.401 31.993 206.11 211.05
Sacombank 23.592 23.967 26.953 27.513 31.568 32.084 206.29 212.66
Techcombank 23.558 23.860 26.643 27.863 31.118 32.281 205.24 214.28
LienVietPostBank 23.540 23.995 26.875 27.928 31.504 31.988 207.19 213.97
DongA Bank 23.610 23.860 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
65.800
66.620
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
65.800
66.600
Vàng SJC 5c
65.800
66.620
Vàng nhẫn 9999
50.350
51.250
Vàng nữ trang 9999
50.250
50.850