Điểm lại thông tin kinh tế ngày 21/10

07:30 | 22/10/2019

Ngân hàng Nhà nước bơm ròng 3.000 tỷ đồng. VN-Index giảm 5,64 điểm (-0,57%) xuống mức 983,56 điểm; HNX-Index giảm 1,47 điểm (-1,39%) xuống mức 104,01 điểm; riêng UPCoM-Index tăng nhẹ 0,14 điểm (+0,25%) tại 56,6 điểm. thanh khoản cải thiện. Khối ngoại bán ròng nhẹ hơn 40 tỷ đồng.

Điểm lại thông tin kinh tế tuần từ 14-18/10

Tin trong nước

Thị trường ngoại tệ phiên 21/10, Ngân hàng Nhà nước niêm yết tỷ giá trung tâm ở mức 23.153 VND/USD, giảm nhẹ 1 đồng so với phiên hôm trước, bên cạnh đó tỷ giá bán niêm yết ở mức 23.798 VND/USD.

Trên thị trường liên ngân hàng, tỷ giá chốt phiên ở mức 23.204 VND/USD, ít biến động so với phiên trước. Tỷ giá trên thị trường tự do giao dịch ổn định tại 23.180 - 23.210 VND/USD.

Thị trường tiền tệ liên ngân hàng phiên hôm qua, lãi suất chào bình quân liên ngân hàng VND tăng nhẹ ở hầu hết các kỳ hạn, trừ kỳ hạn qua đêm và 1 tuần. Cụ thể, các mức lãi suất giao dịch tại: qua đêm 1,74%; 1 tuần 1,96%; 2 tuần 2,26% và 1 tháng 2,58%.

Lãi suất chào bình quân liên ngân hàng USD giảm ở các kỳ hạn dưới 1 tháng; giao dịch tại: qua đêm 2,01%; 1 tuần 2,1%; 2 tuần 2,22%, 1 tháng 2,44%.

Lợi suất trái phiếu Chính phủ trên thị trường thứ cấp vẫn duy trì quanh mức thấp, giao dịch tại: 3 năm 2,63%; 5 năm 2,7%; 7 năm 3,19%; 10 năm 3,68%; 15 năm 3,88%.

Nghiệp vụ thị trường mở ngày 21/10, Ngân hàng Nhà nước huy động được toàn bộ 15.000 tỷ đồng tín phiếu chào thầu với kỳ hạn 7 ngày, lãi suất ở mức 2,25%. Trong ngày, có 18.000 tỷ đồng tín phiếu đáo hạn.

Như vậy, Ngân hàng Nhà nước bơm ròng 3.000 tỷ đồng qua kênh tín phiếu, đưa khối lượng tín phiếu lưu hành trên thị trường xuống mức gần 84.000 tỷ đồng.

Ngân hàng Nhà nước duy trì chào thầu 1.000 tỷ đồng trên kênh cầm cố, kỳ hạn 7 ngày, lãi suất 4,5%, tuy nhiên không có khối lượng trúng thầu.

Thị trường chứng khoán hôm qua, cổ phiếu ngân hàng đồng loạt giảm sâu, kéo thị trường đi xuống. Kết thúc phiên giao dịch, VN-Index giảm 5,64 điểm (-0,57%) xuống mức 983,56 điểm; HNX-Index giảm 1,47 điểm (-1,39%) xuống mức 104,01 điểm; riêng UPCoM-Index tăng nhẹ 0,14 điểm (+0,25%) tại 56,6 điểm.

Tổng giá trị giao dịch đạt 4.553 tỷ đồng, tăng so với mức 4.133 tỷ đồng của tuần trước. Khối ngoại bán ròng nhẹ hơn 40 tỷ đồng trên cả 3 sàn trong phiên hôm qua.

VN-Index trong vòng 3 tháng gần đây - Nguồn: VNDIRECT

Nhập siêu gần 370 triệu USD trong nửa đầu tháng 10/2019. Theo số liệu Tổng cục Hải quan, trong nửa đầu tháng 10/2019, xuất khẩu hàng hóa đạt trên 10,31 tỷ USD, giảm hơn 1,3% so với cùng kỳ tháng trước; nhập khẩu đạt trên 10,68 tỷ USD, tăng 4,1% so với cùng kỳ tháng trước. Như vậy, cán cân thương mại hàng hóa trong kỳ ghi nhận tình trạng nhập siêu với giá trị xấp xỉ 370 triệu USD.

Lũy kế từ đầu năm đến 15/10/2019, cả nước xuất khẩu đạt 204,94 tỷ USD, tăng xấp xỉ 8% so với cùng kỳ năm trước; nhập khẩu đạt trên 198,11 tỷ USD, tăng tương ứng hơn 8,1%. Cán cân thương mại hàng hóa lũy kế từ đầu năm đến hết ngày 15/10/2019 thặng dư gần 6,83 tỷ USD, tăng 5% so với cùng kỳ năm trước.

Tin quốc tế

Chỉ số giá sản xuất của Đức trong tháng 9/2019 tăng 0,1% so với tháng trước sau khi giảm 0,5% trong tháng 8/2019 và trái với mức dự đoán giảm 0,1% của các chuyên gia. Mức tăng giá của tháng 9 phần lớn đến từ giá năng lượng (tăng 0,4% so với tháng trước) và giá hàng hóa tiêu dùng (tăng 0,2% so với tháng trước) trong khi giá hàng hóa trung gian giảm 0,3%.

Trong một báo cáo ra ngày 21/10, ngân hàng The Bundesbank nhận định tăng trưởng kinh tế của Đức có thể sụt giảm nhẹ trong quý III năm nay do khu vực xuất khẩu tiếp tục trong giai đoạn co hẹp.

Sản lượng xuất khẩu tháng 9/2019 của Nhật Bản giảm tháng thứ 10 liên tiếp do xuất khẩu linh kiện xe hơi và thiết bị sản xuất chất bán dẫn giảm. Theo đó, sản lượng xuất khẩu trong tháng 9 giảm 5,2% so với cùng kỳ, cao hơn mức dự đoán giảm 4% của các chuyên gia. Đây được coi là đợt lao dốc dài nhất kể từ sau giai đoạn tháng 10/2015 - 11/2016.

Tính từ đầu năm đến tháng 9, sản lượng xuất khẩu của Nhật Bản giảm 2,3% so với cùng kỳ. Trong khi đó, sản lượng nhập khẩu của Nhật Bản giảm 1,5% so với cùng kỳ, thấp hơn so với ước tính giảm 2,8% của các chuyên gia. Thâm hụt thương mại của Nhật Bản ước tính khoảng 123 tỷ JPY (1,14 tỷ USD), trái ngược hoàn toàn với dự đoán thặng dư khoảng 54 tỷ JPY được các chuyên gia kinh tế đưa ra.

Hôm qua, 21/10, Ngân hàng Trung ương Trung Quốc (PBOC) giữ nguyên lãi suất tham chiếu LPR (Loan prime rate - LPR) kỳ hạn 1 năm ở mức 4,2% và kỳ hạn 5 năm duy trì ở mức 4,85%.

Động thái này khá bất ngờ đối với thị trường bởi phần lớn giới chuyên gia đều dự báo Trung Quốc sẽ tiếp tục hạ lãi suất tham chiếu sau 2 đợt nới lỏng chính sách vào tháng 8 và tháng 9 và đặc biệt là sau thông tin tăng trưởng kinh tế quý III/2019 giảm xuống mức thấp nhất từ 1992 tới nay ở mức 6%. Nhiều khả năng, PBOC đang không muốn nới lỏng chính sách tiền tệ quá mức vì lo sợ mức nợ hiện đang ở ngưỡng cao sẽ có thể tiếp tục tăng vọt.

PL

Nguồn: Trung tâm Nghiên cứu Kinh tế MSB

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,50
5,60
7,00
7,00
VietinBank
0,10
0,30
0,30
0,30
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
Eximbank
0,30
0,80
0,80
0,80
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
7,70
8,40
ACB
0,30
0,80
0,80
0,80
5,00
5,00
5,00
6,30
6,40
6,80
7,60
Sacombank
0,30
-
-
-
4,90
4,95
5,00
6,30
6,40
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,00
4,00
4,00
5,90
5,50
6,00
6,10
LienVietPostBank
0,10
0,80
0,80
0,80
4,90
4,90
5,00
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,00
5,00
5,00
7,00
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,40
6,80
6,80
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.060 23.270 26.550 27.904 29.537 30.0771 211,03 221,12
BIDV 23.085 23.265 26.826 27.903 29.933 30.573 213,08 221,70
VietinBank 23.076 23.266 26.938 27.903 29.933 30.573 215,99 224,49
Agribank 23.085 23.255 26.898 27.489 29.880 30.525 214,93 220,06
Eximbank 23.080 23.250 26.980 27,448 30.008 30.528 216,33 220,08
ACB 23.080 23.250 26.992 27.464 30.141 30.546 216,32 220,32
Sacombank 23.074 23..284 27.056 27.615 30.124 30.634 216,13 222,45
Techcombank 23.067 23.267 26.726 27.429 29.668 30.796 214,67 223,83
LienVietPostBank 23.100 23.260 27,201 27.702 30.161 30.621 219,28 223,32
DongA Bank 23.110 23.240 26.960 27.440 29.970 30.500 212,40 219,20
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
47.620
51.490
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
47.620
51.470
Vàng SJC 5c
47.620
51.490
Vàng nhẫn 9999
47.470
51.270
Vàng nữ trang 9999
47.170
50.970