Điểm lại thông tin kinh tế ngày 25/9

07:30 | 26/09/2019

Thị trường mở phiên hôm qua khá cân bằng ở hai chiều bơm - hút. VN-Index giảm 0,83 điểm (-0,08%) xuống 987,3 điểm; HNX-Index giảm 0,2 điểm (-0,19%) xuống 103,81 điểm; UPCOM-Index giảm 0,15 điểm (-0,26%) xuống mức 56,72 điểm. Thanh khoản thị trường ở mức thấp. Khối ngoại tiếp tục bán ròng khoảng 76 tỷ đồng.

Điểm lại thông tin kinh tế ngày 24/9
Điểm lại thông tin kinh tế ngày 23/9
Điểm lại thông tin kinh tế tuần từ 16-20/9

Tin trong nước

Thị trường ngoại tệ phiên 25/9, Ngân hàng Nhà nước niêm yết tỷ giá trung tâm ở mức 23.145 VND/USD, giảm trở lại 5 đồng so với phiên trước đó. Tỷ giá bán được niêm yết ở mức 23.789 VND/USD.

Trên thị trường liên ngân hàng, tỷ giá chốt phiên ở mức 23.203 VND/USD, tăng nhẹ 2 đồng so với phiên 24/9. Tỷ giá trên thị trường tự do giữ nguyên ở chiều mua vào trong khi tăng 20 đồng ở chiều bán ra, giao dịch tại 23.170 - 23.220 VND/USD.

Thị trường tiền tệ liên ngân hàng phiên hôm qua, lãi suất chào bình quân liên ngân hàng VND không thay đổi ở kỳ hạn qua đêm trong khi giảm 0,03 - 0,09 điểm phần trăm ở các kỳ hạn còn lại từ 1 tháng trở xuống so với phiên trước đó; giao dịch tại: qua đêm 2,23%; 1 tuần 2,43%; 2 tuần 2,58% và 1 tháng 3,12%.

Lãi suất chào bình quân liên ngân hàng USD tăng 0,01 - 0,05 điểm phần trăm ở tất cả các kỳ hạn; giao dịch tại: qua đêm 2,15%; 1 tuần 2,26%; 2 tuần 2,36%, 1 tháng 2,45%.

Lợi suất trái phiếu Chính phủ trên thị trường thứ cấp tiếp tục giảm ở tất cả các kỳ hạn, giao dịch tại: 3 năm 2,86%; 5 năm 2,95%; 7 năm 3,59%; 10 năm 4,01%; 15 năm 4,27%.

Nghiệp vụ thị trường mở ngày 25/9, Ngân hàng Nhà nước chào thầu 15.000 tỷ đồng tín phiếu với kỳ hạn 7 ngày, lãi suất 2,50%. Các tổ chức tín dụng hấp thụ được gần toàn bộ khối lượng này. Trong ngày có trên 14.999 tỷ đồng đáo hạn.

Như vậy, khối lượng tín phiếu lưu hành trên thị trường giữ nguyên ở mức 65.997 tỷ đồng.

Ngân hàng Nhà nước tiếp tục chào thầu 1.000 tỷ đồng trên kênh cầm cố, kỳ hạn 7 ngày, lãi suất 4,50%, tuy nhiên không có khối lượng trúng thầu.

Thị trường trái phiếu ngày 25/9, Kho bạc Nhà nước huy động được 3.050/3.250 tỷ đồng trái phiếu Chính phủ gọi thầu (tỷ lệ trúng thầu 94%). Trong đó, kỳ hạn 7 năm, 10 năm và 15 năm huy động lần lượt toàn bộ 500 tỷ đồng, 1000 tỷ đồng và 1000 tỷ đồng gọi thầu. Kỳ hạn 30 năm huy động được 550/750 tỷ đồng gọi thầu. Lãi suất trúng thầu kỳ hạn 7 năm tại 3,54% - giảm 21 điểm; kỳ hạn 10 năm tại 3,97% - giảm 7 điểm; kỳ hạn 15 năm tại 4,24% - giảm 8 điểm; kỳ hạn 30 năm tại 5,23% - giảm 12 điểm.

Thị trường chứng khoán phiên hôm qua, sắc đỏ áp đảo trên thị trường, hàng loạt cổ phiếu lớn giảm giá khiến các chỉ số thị trường lùi xuống dưới mốc tham chiếu.

Kết thúc phiên giao dịch, VN-Index giảm 0,83 điểm (-0,08%) xuống 987,3 điểm; HNX-Index giảm 0,2 điểm (-0,19%) xuống 103,81 điểm; UPCOM-Index giảm 0,15 điểm (-0,26%) xuống mức 56,72 điểm.

Thanh khoản thị trường duy trì ở mức thấp với tổng giá trị giao dịch đạt gần 4.000 tỷ đồng. Khối ngoại tiếp tục bán ròng khoảng 76 tỷ đồng trên cả 3 sàn.

VN-Index trong vòng 3 tháng gần đây - Nguồn: VNDIRECT

Theo Báo cáo Cập nhật triển vọng phát triển Châu Á ADO 2019 do Ngân hàng Phát triển Châu Á ADB vừa công bố, GDP Việt Nam được dự báo duy trì tăng trưởng mạnh trong năm 2019 và năm 2020 ở mức lần lượt là 6,8% và 6,7%, sau khi đã tăng trưởng mạnh với mức 7,1% trong năm 2018.

Dự báo tăng trưởng này không thay đổi so với dự báo trong báo cáo hồi tháng 4. Tuy nhiên, dự báo lạm phát được điều chỉnh giảm từ 3,5% xuống còn 3,0% trong năm 2019 và từ 3,8% xuống còn 3,5% cho năm 2020.

Tin quốc tế

Doanh số bán nhà mới tại nước Mỹ đạt mức 713 nghìn căn trong tháng 8, tăng đáng kể so với mức 666 nghìn căn của tháng 7 đồng thời vượt xa dự báo ở mức 625 nghìn căn.

Quốc hội Anh đã hoạt động trở lại sau khi Tòa án tối cao Anh ra phán quyết rằng đề nghị của Thủ tướng Borish Johnson là trái luật, dù cho đề nghị này được Nữ hoàng Anh Elizabeth II phê chuẩn. Các quan chức Chính phủ Anh tỏ ra tôn trọng Tòa án tối cao và sẽ không có hành động nào đi trái quyết định này.

ADB ra báo cáo cho rằng kinh tế Trung Quốc sẽ tăng trưởng 6,2% trong năm nay và 6,0% trong năm 2020, cùng giảm so với dự báo lần lượt ở mức 6,3% và 6,1% hồi tháng 4/2019. Sau khi dự báo của ADB được công bố, Thống đốc Yi Gang của PBoC cũng lên tiếng khẳng định cơ quan này không vội trong việc nới lỏng chính sách tiền tệ quy mô lớn.

PL

Nguồn: Trung tâm Nghiên cứu Kinh tế MSB

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,50
5,60
7,00
7,00
VietinBank
0,10
0,30
0,30
0,30
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
Eximbank
0,30
0,80
0,80
0,80
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
7,70
8,40
ACB
0,30
0,80
0,80
0,80
5,00
5,00
5,00
6,30
6,40
6,80
7,60
Sacombank
0,30
-
-
-
4,90
4,95
5,00
6,30
6,40
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,00
4,00
4,00
5,90
5,50
6,00
6,10
LienVietPostBank
0,10
0,80
0,80
0,80
4,90
4,90
5,00
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,00
5,00
5,00
7,00
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,40
6,80
6,80
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.080 23.230 25.454 26.328 30.048 30.559 202,96 216,22
BIDV 23.110 23.230 25.536 26.291 30.166 30.746 207,20 214,02
VietinBank 23.100 23.230 25.454 26.289 30.042 30.682 210,07 216,07
Agribank 23.125 23.220 25.472 25.864 30.095 30.584 210,48 214,31
Eximbank 23.110 23.220 25.484 25.836 30.160 30.577 211,29 214,20
ACB 23.105 23.225 25.478 25.829 30.259 30.569 211,36 214,27
Sacombank 23.075 23.237 25.493 26.110 30.224 30.638 210,48 215,06
Techcombank 23.096 23.236 25.234 26.240 29.848 30.787 209,84 217,11
LienVietPostBank 23.100 23.220 25.423 25.897 29.202 30.657 210,84 214,79
DongA Bank 23.130 23.220 25.330 25.670 29.670 30.080 206,10 211,80
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
43.500
43.970
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
43.500
43.950
Vàng SJC 5c
43.500
43.970
Vàng nhẫn 9999
43.550
44.100
Vàng nữ trang 9999
43.150
43.950