Điểm lại thông tin kinh tế ngày 4/11

07:30 | 05/11/2019

Ngân hàng Nhà nước tiếp tục bơm ròng 4.000 tỷ đồng. VN-Index tăng 6,84 điểm (+0,67%) lên 1.022,43 điểm; HNX-Index tăng 0,85 điểm (+0,80%) lên 106,6 điểm; UPCom-Index tăng 0,37 điểm (+0,66%), lên 56,59 điểm. Thanh khoản thị trường ở mức cao. Khối ngoại mua ròng nhẹ hơn 58 tỷ đồng.

Điểm lại thông tin kinh tế tuần từ 28/10-1/11

Tin trong nước

Thị trường ngoại tệ phiên 4/11, Ngân hàng Nhà nước niêm yết tỷ giá trung tâm ở mức 23.135 VND/USD, tiếp tục giảm 3 đồng so với phiên cuối tuần trước. Theo đó, tỷ giá bán được niêm yết ở mức 23.779 VND/USD.

Trên thị trường liên ngân hàng, tỷ giá chốt phiên ở mức 23.199 VND/USD, chỉ giảm 1 đồng so với phiên 1/11. Tỷ giá trên thị trường tự do giữ nguyên ở cả hai chiều mua vào và bán ra, giao dịch tại 23.180 - 23.210 VND/USD.

Thị trường tiền tệ liên ngân hàng phiên hôm qua, lãi suất chào bình quân liên ngân hàng VND tăng mạnh 0,12 - 0,23 điểm phần trăm ở tất cả các kỳ hạn từ 1 tháng trở xuống so với phiên cuối tuần trước; cụ thể: qua đêm 1,95%; 1 tuần 2,15%; 2 tuần 2,27% và 1 tháng 2,57%.

Lãi suất chào bình quân liên ngân hàng USD tiếp tục giảm 0,05 - 0,07 điểm phần trăm ở tất cả các kỳ hạn; giao dịch tại: qua đêm 1,82%; 1 tuần 1,95%; 2 tuần 2,09%, 1 tháng 2,29%.

Lợi suất trái phiếu Chính phủ trên thị trường thứ cấp tăng mạnh ở tất cả các kỳ hạn, giao dịch tại: 3 năm 2,44%; 5 năm 2,55%; 7 năm 3,18%; 10 năm 3,69%; 15 năm 3,80%.

Nghiệp vụ thị trường mở ngày 4/11, Ngân hàng Nhà nước giảm chào thầu tín phiếu xuống mức 8.000 tỷ đồng với kỳ hạn 7 ngày, lãi suất 2,25%. Các tổ chức tín dụng hấp thụ được gần như toàn bộ khối lượng này. Trong ngày có 12.000 tỷ đồng tín phiếu đáo hạn.

Như vậy, Ngân hàng Nhà nước tiếp tục bơm ròng 4.000 tỷ đồng ra thị trường qua kênh tín phiếu, đưa khối lượng tín phiếu lưu hành giảm xuống mức 48.000 tỷ đồng.

Ngân hàng Nhà nước duy trì chào thầu 1.000 tỷ đồng trên kênh cầm cố, kỳ hạn 7 ngày, lãi suất 4,5%, tuy nhiên không có khối lượng trúng thầu.

Thị trường chứng khoán phiên đầu tuần diễn ra tích cực khi cả 3 chỉ số đều giao dịch trên ngưỡng tham chiếu trong suốt phiên. Kết thúc phiên giao dịch, VN-Index tăng 6,84 điểm (+0,67%) lên 1.022,43 điểm; HNX-Index tăng 0,85 điểm (+0,80%) lên 106,6 điểm; UPCom-Index tăng 0,37 điểm (+0,66%), lên 56,59 điểm.

Thanh khoản thị trường ở mức cao khi giá trị giao dịch cải thiện tích cực so với phiên trước đó với mức trên 5.600 tỷ đồng. Khối ngoại mua ròng nhẹ hơn 58 tỷ đồng trên cả ba sàn.

VN-Index trong vòng 3 tháng gần đây - Nguồn: VNDIRECT

Chỉ số Nhà Quản trị Mua hàng PMI ngành sản xuất Việt Nam có kết quả tương đương ngưỡng trung bình 50 điểm trong tháng 10, giảm so với mức 50,5 điểm của tháng 9 và kết thúc thời kỳ tăng kéo dài 46 tháng.

Tin quốc tế

Theo WTO, Trung Quốc có thể đánh thuế lên hàng hóa của Mỹ với giá trị không vượt quá 3,6 tỷ USD mỗi năm. Đây là kết quả của vụ kiện năm 2012 khi Trung Quốc khiếu nại Mỹ đã đánh thuế lên 7,3 tỷ USD hàng hóa Trung Quốc trong quá khứ và làm giảm lợi ích của nước này. Phía Mỹ đã ngay lập tức phản đối quyết định của WTO và cho rằng phán quyết này không có những lập luận phân tích kinh tế.

Liên quan đến thông tin kinh tế Mỹ, giá trị đơn đặt hàng nhà máy của nước này giảm 0,6% so với tháng trước trong tháng 9 sau khỉ giảm 0,1% ở tháng 8, sâu hơn mức giảm 0,5% theo dự báo.

Chỉ số PMI chính thức lĩnh vực sản xuất của Eurozone ở mức 45,9 điểm trong tháng 10, cao hơn so với dữ liệu sơ bộ và dự báo của các chuyên gia cùng ở mức 45,7 điểm. Đồng thời, chỉ số niềm tin đầu tư trong tháng này được Sentix khảo sát ở mức -4,5 điểm, tăng nhiều so với mức -16,8 điểm của tháng 10 và vượt xa dự báo ở mức -13,2 điểm.

Doanh số bán lẻ của Úc chỉ tăng 0,2% so với tháng trước trong tháng 9, thấp hơn kết quả của tháng trước đó và dự báo của các chuyên gia với mức tăng 0,4%. Tính chung cho cả quý III, doanh số bán lẻ nước Úc giảm 0,1%, là lần đầu tiên suy giảm trong quý này kể từ năm 1990.

PL

Nguồn: Trung tâm Nghiên cứu Kinh tế MSB

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,50
5,60
7,00
7,00
VietinBank
0,10
0,30
0,30
0,30
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
Eximbank
0,30
0,80
0,80
0,80
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
7,70
8,40
ACB
0,30
0,80
0,80
0,80
5,00
5,00
5,00
6,30
6,40
6,80
7,60
Sacombank
0,30
-
-
-
4,90
4,95
5,00
6,30
6,40
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,00
4,00
4,00
5,90
5,50
6,00
6,10
LienVietPostBank
0,10
0,80
0,80
0,80
4,90
4,90
5,00
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,00
5,00
5,00
7,00
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,40
6,80
6,80
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.140 23.310 24.601 25.725 29.563 30.187 201,88 211,10
BIDV 23.170 23.310 24.945 25.709 29.697 30.302 203,03 210,54
VietinBank 23.174 23.324 24.860 25.695 29.626 30.266 206,86 211,86
Agribank 23.180 23.285 24.944 25.354 29.957 30.471 209,00 212,98
Eximbank 23.170 23.300 24.874 25.239 29.748 30.185 207,03 210,07
ACB 23.170 23.300 24.879 25.233 29.830 30.177 207,00 209,94
Sacombank 23.149 23.311 24.891 25.346 29.813 30.218 206,32 210,89
Techcombank 23.155 23.315 24.646 25.608 29.435 30.381 205,75 212,50
LienVietPostBank 23.170 23.290 24.813 25.297 29.980 30.450 209,17 213,23
DongA Bank 23.190 23.280 24.930 25.250 29.790 30.180 204,00 209,70
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
47.300
48.220
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
47.300
48.200
Vàng SJC 5c
47.300
48.220
Vàng nhẫn 9999
47.000
48.000
Vàng nữ trang 9999
46.700
48.000