Điểm lại thông tin kinh tế tuần từ 12-15/4

08:03 | 18/04/2022

Ủy ban Thường vụ Quốc hội thống nhất kéo dài thời hạn áp dụng toàn bộ quy định của Nghị quyết 42/2017/QH14 về thí điểm xử lý nợ xấu của các tổ chức tín dụng đến ngày 31/12/2023 là thông tin kinh tế nổi bật tuần qua.

diem lai thong tin kinh te tuan tu 12 154 Điểm lại thông tin kinh tế tuần trước nghỉ lễ Giỗ Tổ
diem lai thong tin kinh te tuan tu 12 154 Điểm lại thông tin kinh tế tuần từ 28/3-1/4

Tổng quan

Ngày 14/04, tại phiên họp thứ 10, Ủy ban Thường vụ Quốc hội thống nhất kéo dài thời hạn áp dụng toàn bộ quy định của Nghị quyết 42/2017/QH14 về thí điểm xử lý nợ xấu của các tổ chức tín dụng đến ngày 31/12/2023.

Từ tháng 8/2017 khi có hiệu lực đến nay, sau gần 5 năm thực hiện, Nghị quyết số 42 được triển khai tích cực và đạt được kết quả khả quan. Theo đó, nợ xấu của hệ thống các TCTD đã được xử lý, kiểm soát và tỉ lệ nợ xấu nội bảng được duy trì ở mức dưới 2%. Về kết quả xử lý nợ xấu, NHNN cho biết, lũy kế từ 15/08/2017 đến 31/12/2021, toàn hệ thống các TCTD đã xử lý được 380,2 nghìn tỉ đồng nợ xấu xác định theo Nghị quyết số 42. Trong đó, riêng xử lý nợ xấu nội bảng là 196,9 nghìn tỉ đồng (chiếm 51,79%).

Ngoài ra, xử lý các khoản nợ xấu xác định theo Nghị quyết số 42 đã bán cho Công ty Quản lý tài sản (VAMC) được thanh toán bằng TPĐB là 82,5 nghìn tỉ đồng (chiếm 21,70% tổng nợ xấu xác định theo Nghị quyết số 42 đã xử lý). Tổng nợ xấu chưa xử lý xác định theo Nghị quyết số 42 của toàn hệ thống các tổ chức tín dụng đến 31/12/2021 là 412,7 nghìn tỉ đồng, giảm 17,21% so với thời điểm Nghị quyết số 42 có hiệu lực (15/8/2017). Tổng số nợ xấu xác định theo Nghị quyết số 42 được xử lý từ 15/08/2017 đến 31/12/2021 đạt trung bình khoảng 5,67 nghìn tỷ đồng/tháng, cao hơn khoảng 2,15 nghìn tỷ đồng/tháng so với kết quả xử lý nợ xấu trung bình tại thời điểm trước khi Nghị quyết số 42 có hiệu lực.

Hơn nữa, trước khi có Nghị quyết 42, nợ xấu của toàn hệ thống chủ yếu được xử lý bằng dự phòng rủi ro, còn các biện pháp xử lý nợ xấu thông qua xử lý TSBĐ và khách hàng trả nợ còn chưa cao. Kể từ khi Nghị quyết 42 có hiệu lực, từ 15/8/2017 đến 31/12/2021, xử lý nợ xấu nội bảng xác định theo Nghị quyết 42 thông qua hình thức khách hàng trả nợ là 148 nghìn tỷ đồng (chiếm 38,93% tổng nợ xấu theo Nghị quyết 42 đã xử lý), cao hơn mức khoảng 22,8% giai đoạn 2012-2017.

Mặc dù đã có những kết quả khả quan, trên thực tế, NHNN cho rằng, vẫn còn tồn tại một số khó khăn, vướng mắc và cần tiếp tục có sự phối hợp của các bộ, ngành liên quan để xử lý. Cụ thể, các khó khăn, vướng mắc từ công tác thực thi, phối hợp triển khai, hướng dẫn từ các bộ, ngành và địa phương: Về việc mua, bán nợ xấu của tổ chức mua, bán nợ xấu; Về quyền thu giữ tài sản bảo đảm; Về áp dụng thủ tục rút gọn; Về thứ tự ưu tiên thanh toán khi xử lý tài sản bảo đảm; Về việc hoàn trả tài sản bảo đảm là vật chứng trong vụ án hình sự...

Bên cạnh đó, còn có khó khăn, vướng mắc từ chính quy định tại Nghị quyết số 42 liên quan đến thỏa thuận về thu giữ trong hợp đồng bảo đảm; phạm vi áp dụng thủ tục rút gọn. Một vấn đề nữa là cho đến nay, NHNN vẫn chưa trình Chính phủ, Quốc hội dự thảo văn bản thay thế Nghị quyết 42 khi văn bản này hết hiệu lực vào tháng 8/2022. Vì vậy, NHNN đề xuất được kéo dài thời hạn của Nghị quyết. Theo NHNN, những cơ chế, chính sách thí điểm xử lý nợ xấu nếu không được tiếp tục triển khai có thể dẫn đến việc kéo dài quá trình xử lý nợ xấu, ảnh hưởng đến hiệu quả công tác cơ cấu lại hệ thống các TCTD; các TCTD thiếu nguồn lực hỗ trợ tăng trưởng tín dụng cho nền kinh tế và giảm mặt bằng lãi suất; Không khuyến khích, không huy động được các nhà đầu tư trong và ngoài nước tham gia cơ cấu lại các TCTD. Ngoài ra sẽ làm phát sinh những tranh chấp giữa TCTD và khách hàng do còn có sự bất cập, thiếu đồng nhất giữa các văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến xử lý tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu.

Sau khi thảo luận tại phiên họp Thường vụ Quốc hội, 100% đại biểu thống nhất với sự cần thiết kéo dài thời hạn áp dụng của Nghị quyết số 42 đến ngày 31/12/2023 để phù hợp với thời điểm kết thúc của các chính sách phục hồi phát triển kinh tế mà Quốc hội đã thông qua; cho phép bổ sung vào Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2022 đối với Nghị quyết kéo dài thời hạn áp dụng Nghị quyết số 42 và áp dụng trình tự, thủ tục rút gọn thông qua Nghị quyết tại 1 kỳ họp vào tháng 5/2022 theo thẩm quyền quy định tại Điều 146 và Điều 147 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật.

Quốc hội cũng có ý kiến về việc Chính phủ cần có đề xuất, định hướng cụ thể đối với việc hoàn thiện hệ thống pháp luật về xử lý nợ xấu, tài sản bảo đảm. Về việc xây dựng Luật Xử lý nợ xấu, nhiều ý kiến cho rằng Chính phủ phải xem xét kỹ lưỡng có nên xây dựng một Luật về xử lý nợ xấu với tài sản bảo đảm không, hay nghiên cứu sửa đổi Luật Tổ chức tín dụng để hoàn thiện hành lang pháp lý xử lý nợ xấu.

Tóm lược thị trường trong nước từ 12/04 - 15/04

Thị trường ngoại tệ: Trong tuần từ 12/04 - 15/04, NHNN tiếp tục điều chỉnh tỷ giá trung tâm trong biên độ hẹp. Phiên cuối tuần 15/04, tỷ giá trung tâm được niêm yết ở mức 23.106 VND/USD, chỉ tăng 05 đồng so với phiên cuối tuần trước đó. Tỷ giá mua giao ngay được NHNN giữ nguyên niêm yết ở mức 22.550 đồng. Tỷ giá bán kỳ hạn 3 tháng được duy trì niêm yết ở mức 23.050 VND/USD.

Tỷ giá LNH biến động theo xu hướng tăng. Chốt tuần 15/04, tỷ giá LNH đóng cửa tại 22.903 VND/USD, tăng 43 đồng so với phiên cuối tuần trước đó.

Tỷ giá trên thị trường tự do tương đối ổn định trong tuần qua. Chốt phiên cuối tuần 15/04, tỷ giá tự do tăng 50 đồng ở chiều mua vào và 45 đồng ở chiều bán ra, giao dịch tại 23.275 VND/USD và 23.305 VND/USD.

Thị trường tiền tệ LNH: Tuần từ 12/04 - 15/04, lãi suất VND LNH tăng ở 2 phiên đầu tuần rồi giảm trở lại 2 phiên sau đó. Chốt ngày 15/04, lãi suất VND LNH giao dịch quanh mức: ON 2,04% (-0,02 đpt so với phiên cuối tuần trước đó); 1W 2,10% (-0,06 đpt); 2W 2,07 (-0,11 đpt); 1M 2,09% (-0,09 đpt).

Lãi suất USD LNH tuần qua biến động nhẹ qua các phiên. Chốt tuần 15/04, lãi suất USD LNH đóng cửa tăng 0,02 đpt ở kỳ hạn ON trong khi giảm 0,02 ở các kỳ hạn còn lại, cụ thể: ON 0,38%; 1W 0,43%; 2W 0,49% và 1M 0,56%.

Thị trường mở: Trên thị trường mở tuần từ 12/04 - 15/04, NHNN chào thầu 10.000 tỷ đồng/phiên trên kênh cầm cố ở cả 4 phiên, đều với kỳ hạn 14 ngày, lãi suất 2,50%. Có 986,53 tỷ đồng trúng thầu trong tuần qua. Trong tuần có 3.794,33 tỷ đồng đáo hạn. Như vậy, NHNN hút ròng 2.807,14 tỷ VND từ thị trường, đưa khối lượng lưu hành trên kênh cầm cố giảm xuống mức 2.217,75 tỷ VND.

NHNN tiếp tục không chào thầu tín phiếu NHNN.

Thị trường trái phiếu: Ngày 13/04, KBNN huy động thành công 120/6.000 tỷ đồng TPCP gọi thầu (tỷ lệ trúng thầu 2%). Trong đó, kỳ hạn 30 năm huy động thành công 120/500 tỷ đồng, kỳ hạn 7 năm, 10 năm và 15 năm đấu thầu thất bại. Lãi suất trúng thầu kỳ hạn 30 năm tại 3,01%/năm – tăng nhẹ 1 điểm so với phiên trước. Trong tuần có 5.543 tỷ đồng TPCP đáo hạn.

Trong tuần này từ 18/04 - 22/04 có 1.000 tỷ đồng TPCP đáo hạn.

Giá trị giao dịch Outright và Repos trên thị trường thứ cấp tuần qua đạt trung bình 11.094 tỷ đồng/phiên, giảm nhẹ so với mức 11.228 tỷ đồng/phiên của tuần trước đó. Lợi suất TPCP tăng ở tất cả các kỳ hạn. Chốt phiên 15/04, lợi suất TPCP giao dịch quanh 1 năm 1,94% (+0,08 đpt); 2 năm 2,06% (+0,09 đpt); 3 năm 2,13% (+0,09 đpt); 5 năm 2,3% (+0,13đpt); 7 năm 2,59% (+0,18 đpt); 10 năm 3,01% (+0,27 đpt); 15 năm 3,21% (+0,27 đpt); 30 năm 3,25% (+0,08 đpt).

Thị trường chứng khoán: Tuần từ 12/04 - 15/04, thị trường tiêu cực khi cả 3 sàn chìm trong sắc đỏ gần hết các phiên. Kết thúc phiên giao dịch cuối tuần 15/04, VN-Index đứng ở mức 1.458,56 điểm, tương ứng giảm mạnh 23,44 điểm (-1,58%) so với tuần trước đó; HNX-Index giảm 15,31 điểm (-3,54%) xuống 416,71 điểm; UPCom-Index giảm 1,48 điểm (-1,30%) còn 112,36 điểm.

Thanh khoản thị trường ở mức thấp với giá trị giao dịch trung bình trên 23.000 tỷ đồng/phiên. Khối ngoại bán ròng hơn 969 tỷ đồng trên cả 3 sàn trong tuần qua.

Tin quốc tế

Trong tuần qua, nước Mỹ đón nhiều thông tin kinh tế quan trọng. Đầu tiên, về lạm phát, CPI toàn phần của nước này tăng 1,2% m/m trong tháng 3, mạnh hơn so với mức tăng 0,8% của tháng trước đó và khớp với dự báo. Tuy nhiên, CPI lõi chỉ tăng nhẹ 0,3% m/m trong tháng vừa qua sau khi tăng 0,5% ở tháng 2, thấp hơn mức tăng 0,5% theo dự báo của các chuyên gia. So với cùng kỳ năm 2021, CPI toàn phần và CPI lõi nước Mỹ lần lượt tăng 8,5% và 6,5% y/y. Tiếp theo, chỉ số giá sản xuất PPI toàn phần và PPI lõi tại nước này lần lượt tăng 1,4% và 1,0% m/m trong tháng 3, nối tiếp đà tăng 0,8% và 0,2% ở tháng trước đó, đồng thời vượt qua mức tăng 1,1% và 0,5% theo dự báo.

Về lĩnh vực bán lẻ, doanh số bán lẻ chung tại Mỹ tăng 1,1% m/m trong tháng 3, nối tiếp đà tăng 0,6% của tháng 2 và vượt nhẹ mức tăng 1,0% theo dự báo. Doanh số bán lẻ lõi tại nước này tăng 0,5% trong tháng vừa qua sau khi tăng 0,8% ở tháng 2, thấp hơn một chút so với kỳ vọng tăng 0,6%. Cuối cùng, niềm tin tiêu dùng nước Mỹ do Đại học Michigan khảo sát đạt 65,7 điểm trong tháng 4, tăng lên từ 59,4 điểm của tháng 3, trái với dự báo giảm xuống còn 59,1 điểm.

NHTW Châu Âu ECB không thay đổi CSTT trong cuộc họp vừa qua. Trong tuần qua, ngày 14/04 NHTW Châu Âu ECB quyết định duy trì LS tái cấp vốn ở 0,0%; LS cho vay cận biên 0,25% và LS tiền gửi -0,5% nhằm hỗ trợ kinh tế tiếp tục phục hồi và hướng tới lạm phát ổn định ở mức mục tiêu 2,0% trong trung hạn.

Bên cạnh đó, ECB khẳng định lại việc giảm dần và tiến tới chấm dứt các chương trình thu mua tài sản trong tương lai, song cũng cam kết quá trình này sẽ diễn ra một cách hợp lý, tránh các cú sốc về thanh khoản cho thị trường. Cơ quan này cho biết có thể tăng LSCS trở lại sau một vài tuần hoặc một vài tháng kể từ khi kết thúc QE. Liên quan tới thông tin kinh tế Eurozone, niềm tin kinh tế tại khu vực này do ZEW khảo sát ở mức -43,0 điểm trong tháng 4, giảm từ mức -38,7 điểm của tháng 3, tuy nhiên không sâu như mức -46,5 điểm theo dự báo. Tại nước Đức, chỉ số này ở mức -41,0 điểm trong tháng 4, giảm từ -39,3 điểm của tháng trước. Tiếp theo, CPI tại nước Đức chính thức tăng 2,5% m/m trong tháng 3, không thay đổi so với dữ liệu thống kê sơ bộ. Theo đó, CPI tại nước này đã tăng 7,3% y/y.

Nước Anh ghi nhận một số thông tin đáng chú ý, chủ yếu cho thấy tình hình không lạc quan. Đầu tiên, GDP của Anh tăng nhẹ 0,1% m/m trong tháng 2 sau khi tăng 0,8% ở tháng trước đó, thấp hơn mức tăng 0,2% theo dự báo. So với thời điểm trước khi bị dịch Covid-19 tác động, GDP của nước này đã tăng thêm khoảng 1,5%. Sản lượng công nghiệp Anh giảm 0,6% m/m trong tháng 2, sau khi tăng 0,7% ở tháng trước đó, trái với kỳ vọng tiếp tục tăng 0,3%.

Về lạm phát, CPI toàn phần và CPI lõi tại quốc gia này lần lượt tăng 7,0% và 5,7% y/y trong tháng 3, cùng cao hơn mức 6,2% và 5,2% của tháng trước đó, đồng thời cùng vượt qua dự báo ở mức 6,7% và 5,3%. Cuối cùng, tỷ lệ thất nghiệp tại nước Anh ở mức 3,8% trong tháng 2, giảm nhẹ từ mức 3,9% của tháng 1 và khớp với kỳ vọng.

Tỷ giá ngày 15/04: USD = 0.925 EUR (0.19% d/d); EUR = 1.081 USD (-0.19% d/d); USD = 0.766 GBP (0.05% d/d); GBP = 1.306 USD (-0.05% d/d); GBP = 1.208 EUR (0.14% d/d); EUR = 0.828 GBP (-0.14% d/d).

P.L

Nguồn: Trung tâm Nghiên cứu Kinh tế MSB

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,00
3,00
3,30
4,00
4,00
5,50
5,30
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,40
3,50
3,70
5,20
5,40
5,70
6,00
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,10
3,20
3,40
4,50
4,60
5,10
5,80
Sacombank
0,03
-
-
-
3,30
3,50
3,70
4,70
4,70
5,80
6,20
Techcombank
0,03
-
-
-
2,75
2,75
3,25
4,55
4,55
5,45
5,55
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,50
5,50
DongA Bank
0,20
0,20
0,20
0,20
3,70
3,70
3,70
5,60
5,70
6,20
6,50
Agribank
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,50
5,50
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.080 23.390 26.488 27.866 31.023 32.318 204.16 214.87
BIDV 23.110 23.390 26.575 27.683 31.139 32.402 203.99 213.29
VietinBank 23.090 23.390 26.607 27.727 31.399 32.409 204.47 213.47
Agribank 23.080 23.380 26.787 27.493 31.334 32.117 205.87 211.70
Eximbank 23.140 23.350 26.871 27.398 31.480 32.096 206.75 210.81
ACB 23.130 23.350 26.814 27.429 31.401 31.993 206.11 211.05
Sacombank 23.100 23.625 26.953 27.513 31.568 32.084 206.29 212.66
Techcombank 23.106 23.392 26.643 27.863 31.118 32.281 205.24 214.28
LienVietPostBank 23.105 23.390 26.875 27.928 31.504 31.988 207.19 213.97
DongA Bank 23.160 23.430 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
67.950
68.770
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
67.950
68.750
Vàng SJC 5c
67.950
68.770
Vàng nhẫn 9999
53.950
54.900
Vàng nữ trang 9999
53.800
54.500