Điều gì sẽ đến khi Fed thắt chặt lại tiền tệ?

07:00 | 27/09/2021

Fed đã phát đi tín hiệu có thể thu hẹp chương trình mua tài sản vào cuối năm nay và có thể tăng lãi suất từ năm tới. Điều đó chắc chắn sẽ tác động tới các thị trường và giá tài sản. Theo các chuyên gia, dấu hiệu sớm nhất sẽ đến trên thị trường trái phiếu.

Fed sẽ sớm thắt chặt tiền tệ

Tại cuộc họp chính sách tháng 9 kết thúc giữa tuần trước, Fed vẫn giữ nguyên lãi suất cho vay qua đêm ở mức gần bằng 0% và duy trì quy mô mua tài sản là 120 tỷ USD mỗi tháng, đồng thời cam kết sẽ sử dụng đầy đủ các công cụ của mình để hỗ trợ nền kinh tế Mỹ trong thời điểm đầy thách thức này, qua đó thúc đẩy mục tiêu việc làm tối đa và lạm phát. Tuy nhiên thông báo phát đi sau cuộc họp cũng cho biết, Ủy ban Thị trường mở liên bang (FOMC) đánh giá rằng, việc điều chỉnh tốc độ mua tài sản có thể sớm được thực hiện khi mà nền kinh tế đã đạt được nhiều tiến bộ đối với mục tiêu việc làm và lạm phát.

Phát biểu tại cuộc họp báo sau cuộc họp chính sách, Chủ tịch Fed nhận định, chính sách tiền tệ hiện tại sẽ vẫn phù hợp cho đến khi đạt được các mục tiêu của Fed về việc làm và lạm phát. Thế nhưng ông cũng thông tin, quyết định cắt giảm quy mô của chương trình mua tài sản có thể được đưa ra tại cuộc họp tháng 11 và sẽ tiến hành ngay sau đó để có thể kết thúc “vào khoảng giữa năm sau”.

dieu gi se den khi fed that chat lai tien te
Chủ tịch Fed Jerome Powell cho biết, ông hài lòng với những tiến bộ đạt được đối với mục tiêu việc làm và lạm phát

Giới chuyên gia cho rằng, nếu quá trình thu hẹp thực sự bắt đầu vào tháng 12, việc giảm quy mô mua vào tài sản khoảng 15 tỷ USD mỗi tháng sẽ đưa quá trình này xuống 0 trong 8 tháng, tức sẽ kết thúc vào tháng 7/2020. Kathy Jones - Trưởng bộ phận thu nhập cố định của Charles Schwab kỳ vọng Fed sẽ cắt giảm quy mô mua tài sản hàng tháng là 10 tỷ USD trái phiếu kho bạc và 5 tỷ USD chứng khoán thế chấp.

Bình luận về những phát biểu của Chủ tịch Fed Jerome Powell, Kathy Jones cho biết, “giọng điệu” có lẽ hơi hiếu chiến hơn một chút so với dự kiến của thị trường. Theo bà các bình luận của Powell và ý định cắt giảm của Fed phản ánh mức độ tin tưởng cao rằng nền kinh tế tiếp tục phục hồi sau cuộc suy thoái do đại dịch gây ra. “Fed đang nói với chúng tôi rằng họ kỳ vọng tăng trưởng và lạm phát sẽ khá mạnh trong năm tới và họ đã sẵn sàng rút lại chính sách nới lỏng”, bà nói.

Đây không phải là lần đầu tiên Fed thu lại các chính sách kích thích của mình, tuy nhiên chưa bao giờ Fed lại ở trong một tình thế như hiện tại. Trong suốt một năm rưỡi vừa qua, Fed đã đều đặn mua vào 120 tỷ USD trái phiếu kho bạc và chứng khoán thế chấp mỗi tháng, khiến bảng cân đối tài sản của Fed tăng thêm hơn 4 nghìn tỷ USD. Hiện bảng cân đối tài sản của cơ quan này lên tới 8,5 nghìn tỷ USD mà trong đó có khoảng 7 nghìn tỷ USD là tài sản được mua thông qua các chương trình nới lỏng định lượng của Fed.

Điều gì sẽ xảy ra?

Trên thực tế chương trình mua tài sản của Fed thời gian qua đã giúp duy trì lãi suất ở mức thấp, đồng thời hỗ trợ cho các thị trường tài sản, đặc biệt là thị trường chứng khoán vẫn tăng trưởng mạnh bất chấp đại dịch. Cũng chính bởi vậy, việc Fed thu lại chương trình này chắc chắn sẽ có những tác động đến các thị trường.

Mặc dù thị trường chứng khoán Mỹ vẫn tăng điểm sau cuộc họp của Fed, thế nhưng theo giới quan sát, mọi việc diễn ra như thế nào trong thời gian tới phụ thuộc rất lớn vào cách Fed thực hiện chiến lược “rút lui” của mình. Hơn nữa, việc thu hẹp và tiến tới chấm dứt chương trình mua tài sản mới chỉ là bước khởi đầu cho chu kỳ thắt chặt lại tiền tệ và bước đi tiếp theo mà thị trường đang theo dõi chính là lộ trình tăng lãi suất của Fed.

Đồ thị điểm tại cuộc họp chính sách tháng 9 cho thấy, có tới 9 thành viên của FOMC ủng hộ việc tăng lãi suất này trong năm 2022, nhưng cũng có 9 thành viên cho rằng nên giữ nguyên lãi suất. Tuy nhiên hầu hết các quan chức dự kiến sẽ có ít nhất là ba lần tăng lãi suất trong năm 2023 và năm 2024, đưa phạm vi mục tiêu của lãi suất vay qua đêm chuẩn lên 1,75% đến 2%, từ mức 0% đến 0,25% hiện tại.

“Cuộc họp tiếp theo của Fed có thể thực sự thú vị. Nó sẽ mang lại cho chúng ta nhiều biến động hơn những gì chúng ta đang thấy bây giờ”, John Farawell - nhà giao dịch hàng đầu của nhà bảo lãnh phát hành trái phiếu Roosevelt & Cross cho biết. Theo ông, Fed nghe có vẻ “diều hâu” hơn và các quyết định chính sách của Fed sẽ phụ thuộc vào diễn biến kinh tế và dịch bệnh Covid-19 sắp tới.

Đối với các nhà đầu tư, đó sẽ là một môi trường mới, trong đó mặc dù Fed vẫn hỗ trợ nhưng sẽ không nhiều như trước. Thậm chí mọi thứ có thể trở nên rất khác nếu lạm phát tiếp tục vượt quá kỳ vọng của Fed. Hiện các thành viên FOMC đã nâng ước tính lạm phát cơ bản năm 2021 lên 3,7%, cao hơn mức 3% vào tháng 6.

UBS dự báo rằng, các điều kiện kinh tế và các tin tức thu hẹp quy mô mua tài sản của Fed sẽ bắt đầu gây áp lực tăng lên lợi suất, đẩy lợi suất trái phiếu kho bạc 10 năm lên 1,8% vào cuối năm 2021, cao hơn khoảng 40 điểm cơ bản so với mức hiện tại. Lợi suất tăng cũng có nghĩa các nhà đầu tư sẽ bán trái phiếu với dự đoán lãi suất cao hơn và Fed ít hỗ trợ hơn.

Lợi suất trái phiếu cao hơn có thể giảm sức hấp dẫn của cổ phiếu cũng như định giá lại các tài sản vốn đang được định giá quá cao nhờ chính sách tiền rẻ. Thế nhưng điều mà nhiều người quan ngại là lợi suất tăng tại Mỹ cũng có thể khiến dòng vốn đầu tư đảo chiều chảy khỏi các thị trường mới nổi cũng như tạo áp lực đến đồng tiền của các thị trường này.

Hoàng Nguyên

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,50
5,30
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,50
3,50
3,50
5,60
5,80
6,10
6,30
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,00
3,10
3,20
4,40
4,80
5,50
6,20
Sacombank
0,03
-
-
-
3,10
3,20
3,30
4,60
4,90
5,50
6,00
Techcombank
0,03
-
-
-
2,45
2,45
2,65
3,90
3,90
4,50
4,50
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,10
3,10
3,40
4,20
4,40
5,60
5,60
DongA Bank
-
0,20
0,20
0,20
3,40
3,40
3,40
5,30
5,50
5,80
6,10
Agribank
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 22.625 22.855 26.488 27.866 31.023 32.318 204.16 214.87
BIDV 22.655 22.855 26.575 27.683 31.139 32.402 203.99 213.29
VietinBank 22.638 22.858 26.607 27.727 31.399 32.409 204.47 213.47
Agribank 22.665 22.855 26.787 27.493 31.334 32.117 205.87 211.70
Eximbank 22.660 22.840 26.871 27.398 31.480 32.096 206.75 210.81
ACB 22.660 22.840 26.814 27.429 31.401 31.993 206.11 211.05
Sacombank 22.657 22.869 26.953 27.513 31.568 32.084 206.29 212.66
Techcombank 22.645 22.855 26.643 27.863 31.118 32.281 205.24 214.28
LienVietPostBank 22.660 22.840 26.875 27.928 31.504 31.988 207.19 213.97
DongA Bank 22.680 22.840 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
57.850
58.570
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
57.850
58.550
Vàng SJC 5c
57.850
58.570
Vàng nhẫn 9999
51.400
52.100
Vàng nữ trang 9999
51.000
51.800