Đưa thịt lợn vào mặt hàng dự trữ quốc gia

09:26 | 25/03/2020

Theo nhiều chuyên gia, chính vì thịt lợn chưa được đưa vào dự trữ quốc gia và mặt hàng bình ổn giá nên rất khó điều chỉnh thị trường khi giá bán biến động, mà chỉ trông chờ vào việc kêu gọi các DN giảm giá bán.

TP.HCM chủ động chuẩn bị hàng hóa, thịt lợn
Nguồn cung thịt lợn tăng cao từ tháng 2
Đáp ứng nhu cầu người dân đối với các vật tư phục vụ phòng chống dịch virus corona

Khảo sát tại một số chợ trên địa bàn Hà Nội cho thấy, thời điểm này giá thịt lợn vẫn đang dao động từ 140 - 180 nghìn đồng/kg, có nơi thậm chí đang ở mức giá 200 nghìn đồng/kg. Tại các chợ truyền thống như Định Công, Hoàng Mai, giá thịt mông sấn đang được bán với giá 150 nghìn đồng/kg; thịt ba chỉ, bắp giò có giá 160 nghìn đồng/kg; sườn non, nạc vai có giá 180 nghìn đồng/kg. Tại một số chợ ở quận Long Biên, thịt mông sấn, nạc vai có mức giá thấp hơn khoảng 140 nghìn đồng/kg. Số liệu của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NN&PTNT) cho thấy, giá lợn hơi trong nước hiện dao động ở mức 80 - 85 nghìn đồng/kg. Trong tuần qua, giá thịt hơi tại miền Bắc có giảm nhẹ, tuy nhiên, mức giảm không đáng kể so với mặt bằng chung và kỳ vọng của thị trường.

Thực tế cho thấy, bình quân giá thành chăn nuôi lợn hiện khoảng 45 nghìn đồng/kg, bán ra với giá 72 nghìn đồng/kg, DN lãi 2 triệu đồng/con 100 kg; bán giá 74 - 75 nghìn đồng/kg, DN sẽ lãi 2,5 - 3 triệu đồng/con 100 kg.

Giá thịt lợn hơi trên thị trường vẫn cao

Mới đây, Bộ NN&PTNT đã đề nghị 17 DN chăn nuôi lớn hạ giá từ mức hơn 80 nghìn đồng/kg lợn về mức 70 nghìn đồng/kg. Tuy nhiên, hiện mới chỉ có 3 DN là Công ty CP Chăn nuôi Việt Nam, Tập đoàn Dabaco Việt Nam, Tập đoàn Mavin hưởng ứng. Theo ông Nguyễn Xuân Dương - Quyền Cục trưởng Cục Chăn nuôi (Bộ NN&PTNT), 17 DN chăn nuôi quy mô lớn chiếm khoảng 40% thị phần thịt lợn nên nếu chỉ 2,3 DN hưởng ứng sẽ không thể hạ nhiệt thị trường.

Theo ông Nguyễn Xuân Cường, Bộ trưởng Bộ NN&PTNT, nếu cứ để giá thịt lợn cao như hiện nay, các DN sẽ đánh mất thị trường nội. Hơn nữa, cũng cần phải xem xét lại trách nhiệm xã hội của DN và thương lái. Trong bối cảnh cả nước đang phải gồng mình chống lại dịch Covid-19, sản xuất gặp nhiều khó khăn, thu nhập của người dân bị ảnh hưởng nhưng một bộ phận DN, thương lái lại không chia sẻ, vẫn có hiện tượng găm hàng, thổi giá thịt lợn lên cao. Cần phải nhắc lại rằng trước đó, khi DN chăn nuôi gặp nhiều khó khăn do dịch bệnh, nhất là dịch tả lợn châu Phi, Nhà nước đã kịp thời có nhiều chính sách hỗ trợ như khoanh vốn, giãn nợ ngân hàng, hỗ trợ tiêu hủy lợn bị bệnh…

Nếu giá thịt lợn không giảm, Chính phủ sẽ đẩy mạnh nhập khẩu từ Mỹ, Canada, Nga… Bên cạnh đó, Bộ NN&PTNT cũng tính toán phương án nhập khẩu lợn sống từ Lào và Camphuchia đảm bảo các nguyên tắc thương mại và an toàn dịch bệnh.

Theo các chuyên gia, giải pháp nhập khẩu thịt lợn để bình ổn thị trường trong nước là định hướng đúng đắn, tăng sức cạnh tranh trên thị trường từ đó góp phần hạ giá thị trường trong nước. Tuy nhiên, số lượng thịt lợn nhập khẩu vẫn còn khiêm tốn so với tổng sản lượng thịt lợn tiêu thụ trong nước. Năm 2019, cả nước nhập khẩu chưa tới  70 ngàn tấn thịt lợn trong khi nhu cầu tiêu dùng trong nước lên tới 3,8 triệu tấn.

Ông Nguyễn Tất Thắng, Tổng thư ký Hiệp hội Chăn nuôi Việt Nam chia sẻ, việc nhập khẩu thịt lợn mới chỉ là mở ra hướng tiêu thụ mới, chứ hiện tỷ trọng vẫn thấp nên sức ảnh hưởng với giá cả thịt lợn trong nước là không đáng kể. Ngoài ra, thịt lợn đông lạnh nhập khẩu chưa tiếp cận được hệ thống bán lẻ, nhất là chợ truyền thống bởi cần phải có hệ thống giữ lạnh và thói quen sử dụng thịt tươi của người dân. Thịt lợn nhập khẩu có chủng loại không phong phú, chủ yếu là phần thịt được cho là không ngon của con lợn nên khó thu hút người tiêu dùng Việt.

Theo nhiều chuyên gia, chính vì thịt lợn chưa được đưa vào dự trữ quốc gia và mặt hàng bình ổn giá nên rất khó điều chỉnh thị trường khi giá bán biến động, mà chỉ trông chờ vào việc kêu gọi các DN giảm giá bán.

Theo chuyên gia nông nghiệp Hoàng Trọng Thủy, đến lúc này nên đưa thị lợn vào mặt hàng dự trữ quốc gia, bình ổn giá. Tuy nhiên, khác với các mặt hàng khác, với thịt lợn muốn đưa vào danh mục dự trữ quốc gia, một trong những điều kiện cần trước hết phải có hệ thống kho lạnh để bảo quản. Nhưng việc xây dựng đầu tư các kho lạnh còn gặp nhiều khó khăn khi chí phí kho bãi và vận hành khá cao, trong khi nhà nước vẫn chưa có chính sách hợp lý để hỗ trợ. Cụ thể nếu cấp đông chi phí cho mỗi kg thịt lợn sẽ tăng từ 2.500 đồng đến 12.000 đồng/kg tùy thuộc vào thời gian lưu kho.

Ông Nguyễn Quốc Toản, Cục trưởng Cục Chế biến và Phát triển thị trường nông sản (Bộ NN&PTNT) thì cho rằng, các DN cần đổi mới logictis, phải có hệ thống kho đủ khả năng chứa để giữ được hàng trong dài hạn. Hiện nay trên thế giới đã có nhiều quốc gia đã đưa mặt hàng thịt lợn vào dự trữ quốc gia và quản lý hiệu quả. Như tại Thái Lan, mặt hàng thịt lợn đưa vào dự trữ quốc gia đã được quy định mức giá sàn, hay giá thu mua tối thiểu và giá bán tối đa. Theo đó khi giá thịt lợn giảm sâu, Nhà nước sẽ điều chỉnh lên mức giá bán tối đa còn khi giá thịt lợn tăng phi mã Nhà nước sẽ điều chỉnh xuống mức giá tối thiểu. Điều này giúp thị trường thịt lợn luôn ổn định vừa đảm bảo quyền lợi cho người chăn nuôi và người tiêu dùng.

Hồng Hạnh

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,50
5,60
7,00
7,00
VietinBank
0,10
0,30
0,30
0,30
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
Eximbank
0,30
0,80
0,80
0,80
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
7,70
8,40
ACB
0,30
0,80
0,80
0,80
5,00
5,00
5,00
6,30
6,40
6,80
7,60
Sacombank
0,30
-
-
-
4,90
4,95
5,00
6,30
6,40
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,00
4,00
4,00
5,90
5,50
6,00
6,10
LienVietPostBank
0,10
0,80
0,80
0,80
4,90
4,90
5,00
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,00
5,00
5,00
7,00
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,40
6,80
6,80
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.460 23.650 25.380 26.593 28.435 29.445 210,44 221,18
BIDV 23.520 23.700 25.769 26.623 28.840 29.445 213,23 221,80
VietinBank 23.400 23.650 25.352 26.577 28.529 29.499 213,02 222,12
Agribank 23.540 23.690 24.749 25.272 26.830 27.349 209,08 213,60
Eximbank 23.460 23.670 25.654 26,272 28.866 29.542 216,37 221,59
ACB 23.490 23.660 25.743 26.151 29.006 29.391 216,86 220,30
Sacombank 23.495 23.680 25.776 26.341 28.973 29.491 216,32 222,70
Techcombank 23.480 23.640 25.489 26.462 28.591 29.534 215,46 222,41
LienVietPostBank 23.460 23.630 25.427 26.417 28.563 29.539 212,77 223,93
DongA Bank 23.520 23.650 25.750 26.180 28.980 29.490 213,60 220,40
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
47.050
48.070
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
47.050
48.050
Vàng SJC 5c
47.050
48.070
Vàng nhẫn 9999
44.350
45.550
Vàng nữ trang 9999
45.550
45.350