ECB có thể nới lỏng hơn tiền tệ

09:00 | 07/09/2020

Theo các nhà kinh tế, Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB) có khả năng sẽ đẩy mạnh các giải pháp ứng phó với khủng hoảng vào cuối năm nay trong bối cảnh nền kinh tế khu vực đồng tiền chung (Eurozone) phục hồi chậm chạp và đồng euro mạnh lên đang đe dọa đà phục hồi.

Sẽ nới lỏng hơn nữa

Mặc dù nền kinh tế khu vực Eurozone đã có dấu hiệu phục hồi, tuy nhiên rủi ro đe dọa sự phục hồi này là khá lớn khi mà số ca lây nhiễm mới đang có xu hướng gia tăng sau kỳ du lịch mùa hè và các biện pháp giãn cách xã hội được nới lỏng, trong khi các chỉ báo cũng cho thấy nền kinh tế đang mất dần động lực.

Một tín hiệu đáng lo ngại khác đối với các nhà hoạch định chính sách đó là lạm phát tại khu vực đồng tiền chung đã rơi xuống mức âm vào tháng trước lần đầu tiên trong 4 năm, trong khi lạm phát cơ bản cũng giảm xuống mức thấp kỷ lục. ECB dự kiến sẽ công bố các dự báo mới vào tuần tới sẽ giúp xác định mức độ kích thích mà nền kinh tế vẫn cần.

Đồng euro tăng giá mạnh đang tạo thêm áp lực cho kinh tế Eurozone

“Các dữ liệu kinh tế là đủ tốt để đảm bảo rằng ECB sẽ không có bất kỳ hành động chính sách mới nào trong cuộc họp tháng 9. Nhưng sự không chắc chắn liên quan đến coronavirus cũng như tăng trưởng và lạm phát trong khu vực vẫn còn”, Bas van Geffen - một nhà phân tích định lượng tại Rabobank cho biết. Vì vậy, “ECB sẽ xác nhận lại rằng họ vẫn sẵn sàng điều chỉnh chính sách khi cần thiết”, nhà phân tích này cho biết thêm.

“Hội đồng Thống đốc có thể cho biết vào tuần tới rằng rủi ro suy giảm đã gia tăng, báo hiệu chính sách tiền tệ có thể được nới lỏng hơn nữa trước khi kết thúc năm”, các nhà kinh tế David Powell và Maeva Cousin của Bloomberg Economics cho biết.

Hầu hết các chuyên gia kinh tế tham gia cuộc khảo sát của Bloomberg cũng cho rằng, Hội đồng Thống đốc của ECB sẽ giữ ổn định chính sách tiền tệ khi nhóm họp vào thứ Năm tới, nhưng vẫn có một số chuyên gia kỳ vọng Chủ tịch ECB Christine Lagarde sẽ gợi ý về khả năng hành động nhiều hơn trong tương lai.

Tuy nhiên các chuyên gia kinh tế đều kỳ vọng, ECB sẽ tăng quy mô chương trình mua trái phiếu khẩn cấp vì đại dịch (PEPP) thêm 350 tỷ euro vào tháng 12 tới. Trước đó vào tháng 6 ECB đã nâng quy mô Chương trình PEPP lên 1,35 nghìn tỷ euro (1,6 nghìn tỷ USD).

Bên cạnh đó, hầu hết các nhà kinh tế được khảo sát đều mong đợi Chương trình mua tài sản khẩn cấp PEPP sẽ được kéo dài thêm 6 tháng đến cuối năm 2021. Những chuyên gia được hỏi cũng cho biết, ECB sẽ cung cấp thêm khoảng 210 tỷ euro cho đến hết tháng 3/2021 thông qua các chương trình cho vay ngân hàng khác nhau.

Lãi suất tiếp tục giữ ở mức thấp

Đặc biệt, giới chuyên gia kỳ vọng các mức lãi suất chủ chốt của ECB sẽ được giữ nguyên cho đến ít nhất là cuối năm 2022. Hiện lãi suất tái cấp vốn của ECB là 0%; lãi suất cho vay cận biên là 0,25% và lãi suất tiền gửi là -0,5%.

Một áp lực lớn nữa đối với các nhà hoạch định chính sách của ECB đó là việc đồng euro đang tăng giá mạnh. Theo đó, đồng tiền chung đã tăng lên mức 1,2 USD/EUR trong tuần trước lần đầu tiên trong 2 năm qua. Tính ra đồng euro đã tăng tới 12% kể từ khi các biện pháp đóng cửa để ngăn ngừa dịch bệnh được triển khai vào tháng 3.

Đồng euro mạnh lên càng gây thêm áp lực suy giảm cho nền kinh tế khu vực khi nó gây khó cho hoạt động xuất khẩu trong khi lại khuyến khích nhập khẩu. Theo các nhà kinh tế, đà tăng mạnh của đồng tiền chung đang là mối quan tâm chính của các nhà hoạch định chính sách của ECB. Philip Lane – Nhà kinh tế trưởng của ECB cũng đã phát biểu trong tuần trước rằng, tỷ giá hối đoái là vô cùng quan trọng đối với chính sách tiền tệ.

Thế nhưng cái khó là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến sự tăng giá này lại đến từ các yếu tố nằm ngoài sự kiểm soát của ngân hàng trung ương. Theo đó cam kết giữ lãi suất ở mức thấp nhất trong một thời gian dài của Fed cũng như thỏa thuận lịch sử của Liên minh châu Âu về phản ứng tài khóa chung đối với cuộc khủng hoảng được xem là những yếu tố làm nên sức mạnh của đồng euro so với đồng bạc xanh.

 “Cho đến nay, sự tăng giá của đồng euro không làm thay đổi đáng kể triển vọng lạm phát”, Kristian Toedtmann - một nhà kinh tế tại DekaBank ở Frankfurt cho biết. “Nhưng ECB nên đề phòng xu hướng tăng của tỷ giá hối đoái”.

Về dài hạn, các nhà kinh tế kỳ vọng các nhà hoạch định chính sách của ECB sẽ làm theo Fed trong việc áp dụng một chiến lược cho phép lạm phát tạm thời vượt quá mục tiêu gần 2% của mình. Phần lớn những chuyên gia kinh tế được hỏi cho biết ECB có thể sẽ thay đổi mục tiêu lạm phát hiện tại là “thấp hơn, nhưng gần 2%” thành mục tiêu nhằm đạt được giá trị trung bình này theo thời gian.

Mai Ngọc

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,50
5,30
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,50
3,50
3,50
5,60
5,80
6,10
6,30
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,00
3,10
3,20
4,40
4,80
5,50
6,20
Sacombank
0,03
-
-
-
3,10
3,20
3,30
4,60
4,90
5,50
6,00
Techcombank
0,03
-
-
-
2,45
2,45
2,65
3,90
3,90
4,50
4,50
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,10
3,10
3,40
4,20
4,40
5,60
5,60
DongA Bank
-
0,20
0,20
0,20
3,40
3,40
3,40
5,30
5,50
5,80
6,10
Agribank
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 22.820 23.050 26.488 27.866 31.023 32.318 204.16 214.87
BIDV 22.850 23.050 26.575 27.683 31.139 32.402 203.99 213.29
VietinBank 22.830 23.050 26.607 27.727 31.399 32.409 204.47 213.47
Agribank 22.885 23.080 26.787 27.493 31.334 32.117 205.87 211.70
Eximbank 22.860 23.040 26.871 27.398 31.480 32.096 206.75 210.81
ACB 22.840 23.020 26.814 27.429 31.401 31.993 206.11 211.05
Sacombank 22.850 23.065 26.953 27.513 31.568 32.084 206.29 212.66
Techcombank 22.835 23.050 26.643 27.863 31.118 32.281 205.24 214.28
LienVietPostBank 22.850 23.030 26.875 27.928 31.504 31.988 207.19 213.97
DongA Bank 22.880 23.030 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
56.500
57.220
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
56.500
57.200
Vàng SJC 5c
56.500
57.220
Vàng nhẫn 9999
50.950
51.650
Vàng nữ trang 9999
50.650
51.350