ECB có thể tăng lãi suất trong tháng 7

07:38 | 23/05/2022

Thị trường tiền tệ châu Âu đã nâng mức cược là NHTW châu Âu (ECB) sẽ tăng lãi suất ngay trong tháng 7 tới sau khi nhiều nhà hoạch định chính sách tiền tệ khuyến nghị cơ quan này sớm tăng lãi suất để kiềm chế lạm phát.

Khó tránh tăng lãi suất

Áp lực lạm phát đang tăng cao trên toàn cầu trong bối cảnh chuỗi cung ứng bị gián đoạn vì đại dịch Covid-19 và cuộc xung đột Nga - Ukraine. Hiện nhiều NHTW trên thế giới đã phải siết chặt lại chính sách kích thích tiền tệ, tăng lãi suất để ứng phó với lạm phát.

Theo đó Fed đầu tháng này đã tăng lãi suất thêm 0,5%, mức tăng mạnh nhất trong 22 năm. Đây là lần tăng lãi suất thứ 2 của Fed trong năm nay và cơ quan này được dự báo sẽ còn tăng tiếp lãi suất thêm nhiều lần nữa khi mà chỉ số giá tiêu dùng tại Mỹ đã tăng tới 8,3% trong tháng 4 - mức cao nhất trong 40 năm.

Trong khi đó, NHTW Anh cũng đã tăng lãi suất vào tháng 5, lần tăng lãi suất thứ tư kể từ khi bắt đầu bình thường hóa chính sách vào tháng 12. Tuy nhiên, lạm phát của Anh vẫn chạm mức cao nhất trong 40 năm là 9%.

ecb co the tang lai suat trong thang 7

Mặc dù ECB hiện vẫn đang duy trì chính sách lãi suất âm. Tuy nhiên trong bối cảnh lạm phát tại khu vực đồng Euro đã đạt mức cao kỷ lục là 7,5% trong tháng 4, ECB có thể cũng sẽ phải làm điều tương tự.

“Trong cuộc họp rất quan trọng vào tháng 3, chúng tôi đã quyết định kết thúc việc mua tài sản ròng và trong cuộc họp tháng 6, tùy thuộc vào dữ liệu, chúng tôi sẽ quyết định có thể dừng lại. Tôi nói điều này bởi vì dữ liệu này đang nói một ngôn ngữ rất thuyết phục ở đây rằng chúng tôi cần ngừng chương trình tài sản và sau đó tôi tin rằng chúng tôi sẽ sớm chứng kiến những đợt tăng lãi suất đầu tiên”, Joachim Nagel - Chủ tịch NHTW Đức (Bundesbank) và là một trong những thành viên của ECB cho biết.

Theo các nhà phân tích, bình luận của ông chỉ ra rằng, đợt tăng lãi suất đầu tiên có thể đến vào tháng 7. Nagel cho biết, ông đã cảnh báo về lạm phát cao hơn ngay từ khá sớm và hiện đang thấy nhiều động lực hơn đối với việc tăng lãi suất. “Tôi đánh giá rất cao rằng nhiều đồng nghiệp hiện nay tại Hội đồng Thống đốc cũng có quan điểm tương đồng”, ông nói.

Có thể tăng tới 50 điểm

Trước đó, Thống đốc NHTW Pháp Francois Villeroy de Galhau cũng khuyến nghị ECB nên tăng dần lãi suất. Ngay cả Thống đốc NHTW Italia Ignazio Visco - người được xem là khá "ôn hòa" trong số các thành viên của ECB cũng nói rằng việc tăng lãi suất “có thể diễn ra trong quý III hoặc vào cuối năm, nhưng nó phải từ từ”.

Thậm chí phát biểu hôm 17/5, Thống đốc NHTW Hà Lan ông Klaas Knot - một nhà hoạch định chính sách khác của ECB còn cho rằng, cơ quan này có thể cần tăng lãi suất tới 50 điểm cơ bản nếu dữ liệu sắp tới cho thấy lạm phát tiếp tục "mở rộng thêm hoặc tích lũy".

Thị trường tiền tệ khu vực đồng tiền chung Euro cuối tuần trước đã nâng mức cược là ECB sẽ tăng lãi suất 50 điểm cơ bản vào tháng 7 để đưa lãi suất chính sách của ngân hàng về mức 0% sau phát biểu của Thống đốc NHTW Hà Lan Klaas Knot.

“Ngay cả khi quan điểm của (Knot) chỉ là quan điểm thiểu số tại ECB, tôi nghĩ chúng ta có thể coi 25 điểm cơ bản tại cuộc họp này là mức tăng tối thiểu”, Antoine Bouvet - chiến lược gia cao cấp tại ING cho biết.

Theo giá của Tradeweb, việc thị trường nâng mức cược là ECB có thể tăng lãi suất tới 50 điểm cơ bản cũng đã thúc đẩy lợi suất hai năm của Đức tăng 16 bps trong tuần này. Việc lợi suất trái phiếu 2 năm tăng mạnh hơn nhiều so với lợi suất trái phiếu 10 năm đã nắn phẳng đường cong lợi suất trái phiếu Chính phủ Đức trong tuần trước.

Trong khi việc nắn phẳng đường cong lợi suất của trái phiếu Kho bạc Mỹ là một chủ đề lớn trong năm nay với một sự đảo ngược ngắn vào tháng 3, thì độ dốc đường cong của Đức đã khiến các nhà phân tích bối rối từ lâu khi đưa ra triển vọng tăng trưởng yếu hơn trong khu vực đồng euro. Jens Peter Sorensen - nhà phân tích trưởng tại Danske Bank nhận thấy, sự đi ngang này là kết quả của "kỳ vọng ngày càng tăng rằng ECB sẽ tăng lãi suất tương tự như những gì chúng ta đã thấy ở Mỹ". Sorensen cho biết, nếu lo ngại về tăng trưởng tiếp tục, điều đó sẽ làm giảm lợi suất có kỳ hạn dài hơn, trong khi các NHTW sẽ giữ áp lực lên các kỳ hạn ngắn hơn.

Niềm tin của người tiêu dùng khu vực đồng Euro đã tăng 0,9 điểm trong tháng 5 so với con số tháng 4, số liệu công bố vào chiều thứ Sáu cho thấy. Ủy ban châu Âu cho biết một ước tính chớp nhoáng cho thấy tinh thần của người tiêu dùng khu vực đồng euro được cải thiện lên -21,1 trong tháng này từ -22,0 vào tháng Tư.

Hoàng Nguyên

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,00
3,00
3,30
4,00
4,00
5,50
5,30
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,40
3,50
3,70
5,20
5,40
5,70
6,00
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,10
3,20
3,40
4,50
4,60
5,10
5,80
Sacombank
0,03
-
-
-
3,30
3,50
3,70
4,70
4,70
5,80
6,20
Techcombank
0,03
-
-
-
2,75
2,75
3,25
4,55
4,55
5,45
5,55
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,50
5,50
DongA Bank
0,20
0,20
0,20
0,20
3,70
3,70
3,70
5,60
5,70
6,20
6,50
Agribank
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,50
5,50
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.180 23.490 26.488 27.866 31.023 32.318 204.16 214.87
BIDV 23.190 23.470 26.575 27.683 31.139 32.402 203.99 213.29
VietinBank 23.195 23.495 26.607 27.727 31.399 32.409 204.47 213.47
Agribank 23.180 23.470 26.787 27.493 31.334 32.117 205.87 211.70
Eximbank 23.230 23.450 26.871 27.398 31.480 32.096 206.75 210.81
ACB 23.230 23.460 26.814 27.429 31.401 31.993 206.11 211.05
Sacombank 23.220 23.567 26.953 27.513 31.568 32.084 206.29 212.66
Techcombank 23.209 23.500 26.643 27.863 31.118 32.281 205.24 214.28
LienVietPostBank 23.150 23.440 26.875 27.928 31.504 31.988 207.19 213.97
DongA Bank 23.250 23.500 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
68.100
68.720
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
68.100
68.700
Vàng SJC 5c
68.100
68.720
Vàng nhẫn 9999
53.100
54.050
Vàng nữ trang 9999
52.950
53.650