Fed có thể bắt đầu tăng lãi suất từ tháng Ba

09:54 | 27/01/2022

Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) hôm thứ Tư cho biết họ có khả năng sẽ tăng lãi suất vào tháng Ba, tái khẳng định việc chấm dứt mua trái phiếu trong cùng tháng đó nhằm thực thi cam kết của Chủ tịch Jerome Powell về một “cuộc chiến” trường kỳ để chế ngự lạm phát.

“Ủy ban Thị trường mở Liên bang (FOMC) có ý định sẽ tăng lãi suất chính sách tại cuộc họp tháng Ba nếu các điều kiện là thích hợp”, Powell nói trong cuộc họp báo, đồng thời nhắc lại tuyên bố chính sách từ FOMC rằng lãi suất sẽ tăng "sớm".

Đồng thời, các đợt tăng lãi suất sau đó và việc giảm quy mô tài sản đang nắm giữ của Fed sẽ được thực hiện khi cần thiết, Powell nói, khi các quan chức ngân hàng trung ương cố gắng kiểm soát lạm phát để đưa nó giảm từ mức cao nhất trong nhiều thập kỷ trở lại mục tiêu 2%.

Nhưng nhiều quyết sách quan trọng khác thị trường trông đợi đã không được làm rõ khi ông nói với các phóng viên sau cuộc họp chính sách kéo dài hai ngày, bao gồm cả tần suất tăng lãi suất hay tốc độ giảm bảng cân đối kế toán.

Dù vậy, Powell đã rõ ràng về một điểm chính, đó là với lạm phát cao và dường như đang trở nên tồi tệ hơn, Fed trong năm nay có kế hoạch dần kiềm chế tín dụng và chấm dứt hỗ trợ bất thường thời đại dịch.

Kể từ sau cuộc họp chính sách vào tháng 12, Powell cho biết lạm phát "không hề thuyên giảm. Nó có thể đã trở nên tồi tệ hơn một chút... Chính sách của chúng tôi sẽ phải điều chỉnh điều đó".

“Đây sẽ là một năm mà chúng tôi rời bỏ chính sách tiền tệ có tính thích ứng cao mà chúng tôi đã áp dụng để đối phó với những tác động kinh tế của đại dịch”, ông nói thêm.

fed co the bat dau tang lai suat tu thang ba
Chủ tịch Fed Jerome Powell

Thị trường chứng khoán Mỹ đã lao dốc khi Powell liên tục nhấn mạnh đến tình trạng lạm phát cao và kéo dài, đồng thời không đề cập đến khả năng thắt chặt chính sách mạnh mẽ hơn khi cần thiết.

Chỉ số S&P 500 đã bị bán tháo mạnh trong suốt thời gian cuộc họp báo của Powell, đóng cửa thấp hơn 0,15%. Nasdaq Composite kết phiên không mấy thay đổi.

Lợi tức trái phiếu kho bạc kỳ hạn dài luôn nhạy cảm với chính sách về bảng cân đối kế toán của Fed đã tăng khi Powell báo hiệu rằng quyết định sẽ sớm được đưa ra về thời điểm bắt đầu thu hẹp danh mục tài sản hơn 8 nghìn tỷ USD của ngân hàng trung ương. Đô la tăng 0,5% lên mức cao nhất trong một tháng so với rổ tiền tệ của các đối tác thương mại chính.

Powell đã "cố gắng xoa dịu lo ngại của thị trường trong lúc nói về lạm phát có thể trở nên tồi tệ hơn, về việc Fed có thể phải sử dụng nhiều công cụ hơn, việc giảm bảng cân đối kế toán", Peter Cardillo, nhà kinh tế trưởng thị trường tại Spartan Capital Securities ở New York, nói. "Nhưng vấn đề mấu chốt là thông tin từ ông ấy đang khiến thị trường lo ngại về sự không chắc chắn".

Mức độ xoay trục chính sách của Fed, từ chống chọi với suy thoái kinh tế sang cuộc chiến chống lạm phát, sẽ rõ ràng hơn trong những tuần tới. Nó phụ thuộc vào lạm phát và Powell cho biết các quan chức vẫn hy vọng tình hình có nhiều cải thiện và có thể cho phép họ ít phải can thiệp bằng thắt chặt chính sách tiền tệ hơn.

Trong khi đó, vô số rủi ro vẫn tồn tại, từ một đại dịch tiếp tục diễn biến phức tạp cho đến rủi ro tiềm ẩn về một cuộc xung đột quân sự giữa Nga và Ukraine.

Nhưng Powell cho biết các nhà hoạch định chính sách tại thời điểm này cảm thấy họ có "khá nhiều dư địa để tăng lãi suất" mà không làm chậm quá trình phục hồi kinh tế.

Ông nhắc lại rằng "nền kinh tế đang khá khác biệt" so với thời điểm Fed bắt đầu nâng lãi suất lần cuối vào năm 2015, với lạm phát cao hơn, tỷ lệ thất nghiệp thấp hơn, mà ông Powell coi là đủ điều kiện để không cần Fed can thiệp nhiều.

Trong quá trình chuyển sang chính sách thắt chặt hơn trước đó, Fed đã tiến hành khá chậm với mức tăng lãi suất 25 điểm cơ bản vào năm 2015 và chỉ tăng thêm một lần nữa vào năm 2016.

Các nhà đầu tư đang kỳ vọng Fed sẽ làm nhiều hơn ở thời điểm này, với các quỹ tương lai đầu tư theo triển vọng chính sách của Fed dự đoán sẽ có bốn đợt tăng lãi suất trong năm nay.

Các thành viên FOMC cũng nhất trí tại cuộc họp tuần này về một loạt nguyên tắc để "giảm đáng kể" quy mô nắm giữ tài sản của Fed. Các quan chức cho biết họ sẽ thu hẹp lượng nắm giữ, bắt đầu sau khi lãi suất tăng, nhưng chưa đưa ra thời điểm cụ thể, tốc độ hoặc quy mô chính sách.

Ngân hàng trung ương cho biết theo thời gian, bảng cân đối kế toán của Fed sẽ không chỉ giảm xuống mà còn được cơ cấu lại tỷ trọng chứng khoán thế chấp dịch so với trái phiếu kho bạc, "do đó giảm thiểu tác động từ việc nắm giữ của Cục Dự trữ Liên bang đến phân bổ tín dụng trên các lĩnh vực của nền kinh tế".

Tuyên bố của Fed cũng nhấn mạnh một lần nữa rằng mức tăng việc làm gần đây là "vững chắc" ngay cả khi sự bùng phát của biến thể Omicron đã đẩy số trường hợp nhiễm COVID-19 hàng ngày lên mức kỷ lục. Trong khi Fed không đưa dự báo khi nào lạm phát có thể giảm bớt, tuyên bố cho biết các quan chức tiếp tục kỳ vọng những cải thiện trong chuỗi cung ứng toàn cầu sẽ làm giảm tốc độ tăng giá.

“Sự mất cân bằng cung và cầu liên quan đến đại dịch và sự mở cửa trở lại của nền kinh tế tiếp tục góp phần làm gia tăng lạm phát”, Fed cho biết, trong đó chỉ số giá tiêu dùng đã tăng 7% so với cùng kỳ vào tháng 12/2021 - mức cao nhất kể từ những năm 1980.

Các nhà hoạch định chính sách đã không đưa ra các dự báo kinh tế và lãi suất mới sau cuộc họp kết thúc hôm thứ Tư.

M.Hồng

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,00
3,00
3,30
4,00
4,00
5,50
5,30
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,50
5,50
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,40
3,50
3,70
5,20
5,40
5,70
6,00
ACB
-
0,20
0,20
0,20
2,90
3,00
3,10
4,20
4,60
5,30
6,00
Sacombank
0,03
-
-
-
3,30
3,40
3,60
4,60
4,70
5,80
6,20
Techcombank
0,03
-
-
-
2,55
2,55
2,85
4,00
3,90
4,70
4,60
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,10
3,10
3,40
4,20
4,40
5,50
5,50
DongA Bank
0,20
0,20
0,20
0,20
3,50
3,50
3,50
5,40
5,50
6,00
6,30
Agribank
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,50
5,50
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 22.920 23.230 26.488 27.866 31.023 32.318 204.16 214.87
BIDV 22.955 23.235 26.575 27.683 31.139 32.402 203.99 213.29
VietinBank 22.935 23.235 26.607 27.727 31.399 32.409 204.47 213.47
Agribank 22.935 23.230 26.787 27.493 31.334 32.117 205.87 211.70
Eximbank 22.980 23.190 26.871 27.398 31.480 32.096 206.75 210.81
ACB 22.970 23.190 26.814 27.429 31.401 31.993 206.11 211.05
Sacombank 22.952 23.352 26.953 27.513 31.568 32.084 206.29 212.66
Techcombank 22.952 23.238 26.643 27.863 31.118 32.281 205.24 214.28
LienVietPostBank 22.970 23.250 26.875 27.928 31.504 31.988 207.19 213.97
DongA Bank 23.000 23.190 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
68.500
69.520
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
68.500
69.500
Vàng SJC 5c
68.500
69.520
Vàng nhẫn 9999
54.200
55.100
Vàng nữ trang 9999
53.900
54.700