Fed tăng lãi suất: Việt Nam vẫn có dư địa để ứng phó

18:00 | 08/05/2022

Việc Fed thắt chặt chính sách đã có lộ trình từ trước và hầu như đã phản ánh vào kỳ vọng của thị trường toàn cầu và trong nước thời gian qua. Do đó, về cơ bản sẽ không tác động lớn đến thị trường tiền tệ trong nước, dù cũng góp phần khiến áp lực điều hành tiền tệ khó khăn hơn, theo TS. Lê Duy Bình, Giám đốc Economica Vietnam.

Ông nhìn nhận thế nào về đợt tăng lãi suất chính sách 0,5% của Fed vừa qua?

Việc Fed thắt chặt chính sách đã có lộ trình từ trước, nghĩa là không quá bất ngờ, song quyết định tăng lãi suất tại cuộc họp chính sách tháng 5 vừa qua (ở mức 0,5%) là khá mạnh mẽ so với lần tăng trước vào tháng 3 (tăng 0,25%). Điều này chủ yếu phản ánh đúng tình hình giá cả leo thang nhanh tại Mỹ. Nó cho thấy Fed đang nỗ lực mạnh hơn trong ngăn chặn lạm phát đang tăng quá cao.

fed tang lai suat chung ta van co du dia de ung pho
TS. Lê Duy Bình

Bên cạnh đó, còn có những yếu tố mà Fed có thể không kiểm soát được. Ví dụ, như tác động của cuộc xung đột Nga-Ukraine hiện nay khiến giá nguyên, nhiên vật liệụ tăng giá mạnh, cho nên Fed cũng phải sử dụng biện pháp mạnh mẽ hơn về lãi suất, thu hẹp bảng cân đối tài sản với kỳ vọng sẽ có thể giảm bớt được sức ép đến giá tiêu dùng tại Mỹ.

Xu hướng thắt chặt tiền tệ của các NHTW lớn, đặc biệt là Fed sẽ có những tác động chung đến toàn cầu. Với Việt Nam, tác động cũng có thể xảy ra nhưng sẽ không lớn.

Mặc dú tác động tới Việt Nam là không lớn nhưng theo tiến sĩ những tác động nếu có sẽ như thế nào?

Thông thường khi Fed tăng/giảm lãi suất có thể tác động trực tiếp đến thị trường trong nước ở hai yếu tố chính là tỷ giá và lãi suất. Từ hai yếu tố này có thể có những tác động gián tiếp đến các hoạt động, lĩnh vực khác của kinh tế Việt Nam như xuất nhập khẩu, dòng vốn đầu tư nước ngoài…

Về tỷ giá, động thái tăng lãi suất mạnh của Fed vừa qua (và có thể có các lần tăng tương tự trong thời gian tới) có thể tạo ra áp lực đối với tỷ giá tại Việt Nam theo hướng làm tỷ giá tăng (tức là giá trị của VND sẽ có xu hướng giảm).

Trên góc độ lý thuyết, khi tỷ giá tăng (đồng nội tệ giảm) sẽ có lợi cho xuất khẩu. Nhưng điều này cũng đòi hỏi rất khéo trong điều hành tỷ giá. Bởi nếu tỷ giá tăng quá mạnh (VND mất giá quá nhiều so với USD), kéo dài và đồng thời chúng ta lại thấy xuất khẩu của Việt Nam tăng một cách đột biến thì sẽ có những rủi ro như đã từng xảy ra trước đây. Nên cần có biện pháp điều hành phù hợp, tránh các rủi ro có thể xảy ra.

Bên cạnh đó, nếu tỷ giá tăng kéo dài thì với vốn đầu tư nước ngoài gián tiếp (thông qua các kênh chứng khoán, các quỹ…) sẽ có nguy cơ dòng vốn chảy ra. Ở một số thị trường các nước đã từng xảy ra hiện tượng này. Tuy nhiên, với Việt Nam, tôi cho rằng nguy cơ này không lớn, thị trường sẽ không bị ảnh hưởng mạnh vì phần lớn các quỹ đầu tư ở Việt Nam là quỹ đóng.

Trong khi đó với vốn đầu tư nước ngoài trực tiếp (FDI) thì thậm chí khi tỷ giá tăng lại thuận lợi cho các NĐT này vì vẫn với phần vốn USD đưa vào đầu tư đó nhưng họ sẽ mua được nhiều tư liệu sản xuất, lao động hơn.

Về lãi suất, thực tế lãi suất huy động VND đã bắt đầu tăng dần so với cách đây một vài tháng, nhất là nhiều NHTM đã tăng lãi suất trước kỳ nghỉ 30/4 vừa qua. Điều này bên cạnh các yếu tố như: Tăng trưởng tín dụng tốt hơn khiến các ngân hàng đẩy mạnh huy động hơn; thị trường chứng khoán thời gian qua kém hấp dẫn nên có thể một phần dòng tiền chảy qua hệ thống ngân hàng; áp lực lạm phát tăng gây áp lực lên lãi suất huy động… thì cũng có thể phần nào phản ánh việc các NHTM đã chủ động đón đầu trước khi cho rằng Fed chắc chắn sẽ tăng lãi suất 0,5% trong cuộc họp vừa qua. Và khi lãi suất huy động tăng thường cũng gây áp lực đẩy lãi suất cho vay tăng.

Ngoài ra, động thái tăng lãi suất mạnh của Fed vừa qua cũng cho thấy, Mỹ có thể chấp nhận ưu tiên chống lạm phát hơn phục hồi tăng trưởng kinh tế. Và như thời gian vừa qua chúng ta thấy cũng có nhiều NHTW lớn khác cũng tăng mạnh lãi suất, như NHTW Anh, hay mới đây là NH Dự trữ Úc… và rất có thể tới đây có thể cả NHTW châu Âu ECB cũng sẽ phải thắt chặt tiền tệ để đối phó với lạm phát.

Khi các nền kinh tế lớn đều có xu hướng thắt chặt tiền tệ, chấp nhận hy sinh tăng trưởng thì sức cầu bên ngoài và từ các thị trường đối tác lớn của Việt Nam cũng sẽ giảm xuống, như vậy sẽ tác động gián tiếp đến xuất khẩu của Việt Nam.

Như vậy, có thể xem việc Fed tăng lãi suất mạnh hơn dù ít hay nhiều cũng sẽ gây áp lực lớn hơn trong điều hành thị trường tiền tệ trong nước?

Fed tăng lãi suất vừa qua đang tạo thêm những áp lực lớn hơn. Tuy nhiên về cơ bản tôi cho rằng, kinh tế Việt Nam với những chỉ số kinh tế vĩ mô tốt, dự trữ ngoại hối tốt, sự bền bỉ của hệ thống ngân hàng trong suốt những năm qua nên tác động có thể có nhưng sẽ không lớn. Chúng ta vẫn có thời gian và dư địa để ứng phó với những biến động như vậy.

Để giảm thiểu các tác động tiêu cực nếu có, nhà điều hành nên tập trung vào những vấn đề gì, thưa tiến sĩ?

Theo dõi sát, tính toán các cân đối lớn và điều hành linh hoạt là rất cần trong năm nay. Cần theo dõi phản ứng của thị trường trong thời gian tới, từ đó tính toán tác động định lượng cụ thể để có những điều chỉnh thích hợp nếu cần thiết.

Ví dụ về mặt lãi suất, cần tiếp tục theo dõi xem mức độ tác động ảnh hưởng của lần tăng lãi suất này của Fed đến đâu cũng như khả năng cung ứng, cân đối thị trường tiền tệ, tín dụng trong nước như thế nào để điều hành lãi suất phù hợp, linh hoạt, phản ánh được thực tế.

Bên cạnh đó, khi mặt bằng lãi suất huy động tăng, để giữ được lãi suất cho vay không tăng thì cần các công cụ khác để giảm bớt chi phí giao dịch của các NHTM.

Trong bối cảnh này, tôi nghĩ cần các biện pháp mang tính kỹ thuật của cả NHNN, Bộ Tài chính và các bên liên quan khác để đảm bảo được sự điều hành linh hoạt. Hơn nữa, Fed cũng đã nói rõ về khả năng tăng lãi suất ở lần tiếp theo và thậm chí những lần sau nữa.

Như vậy, với nền kinh tế mở và hội nhập sâu, chúng ta đi một bước nhưng đồng thời cũng phải tính đến bước tiếp theo sẽ thế nào cho phản ứng tương thích, phù hợp.

Xin cảm ơn tiến sĩ!

Lê Đỗ thực hiện

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
4,10
4,10
4,40
4,70
4,80
6,40
6,40
BIDV
0,10
-
-
-
4,10
4,10
4,40
4,70
4,80
6,40
6,40
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
4,10
4,10
4,40
4,70
4,80
6,40
6,40
Cake by VPBank
0,10
-
-
-
4,90
-
4,95
7,90
-
8,50
8,60
ACB
-
0,50
0,50
0,50
4,00
4,10
4,20
5,50
5,70
6,20
6,90
Sacombank
-
-
-
-
5,60
5,70
5,80
7,00
7,15
7,30
7,50
Techcombank
0,03
-
-
-
5,90
5,90
5,90
6,70
6,70
7,00
7,00
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
6,00
6,00
6,00
6,50
6,50
5,90
6,40
DongA Bank
0,50
0,50
0,50
0,50
5,00
5,00
5,00
6,80
6,90
7,40
7,70
Agribank
0,30
-
-
-
4,10
4,10
4,40
4,80
4,80
6,40
6,40
Eximbank
0,20
0,50
0,50
0,50
4,50
4,60
4,70
6,00
6,10
6,60
6,60
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 24.570 24.840 24.754 26.138 28.541 29.755 170.32 180.30
BIDV 24.610 24.845 24.915 26.013 28.716 29.883 170.53 178.87
VietinBank 24.560 24.850 25.021 26.156 28.886 29.896 171.64 180.19
Agribank 24.640 24.852 25.147 26.225 28.899 29.682 174.11 180.63
Eximbank 24.620 24.848 25.044 25.697 28.953 29.708 172.21 176.70
ACB 24.600 24.850 25.119 26.701 29.135 29.691 172.39 176.56
Sacombank 24.610 24.850 25.081 25.996 29.089 29.855 172.56 180.11
Techcombank 24.607 24.848 25.080 25.730 28.970 29.730 171.40 177.00
LienVietPostBank 24.580 24.852 25.088 26.320 29.058 29.881 172.21 181.04
DongA Bank 24.640 24.850 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
66.650
67.470
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
66.650
67.450
Vàng SJC 5c
66.650
67.470
Vàng nhẫn 9999
53.150
54.150
Vàng nữ trang 9999
52.950
53.750