Giá vàng tuần tới: Niềm tin vào vàng vẫn khá mạnh mẽ

09:58 | 18/06/2022

Mặc dù giá vàng đi xuống do chỉ số đồng USD đi lên, tuy nhiên, chuyên gia nhận định, thị trường vẫn ở vị trí lành mạnh, ngay cả khi Fed dự kiến ​​sẽ tăng lãi suất lên gần 3,5% trong năm nay.

Tính đến 8h30 sáng nay theo giờ Việt Nam, giá vàng giao ngay trên thị trường thế giới giảm 18 USD (-0,97%) so với mở cửa xuống 1.839,8 USD/oz, giao dịch đang dao động trong khoảng 1.833,7 - 1.854,3 USD/oz.

Trong khi đó, giá vàng hợp đồng tương lai tháng 8/2022 giảm 8,3 USD (-0,45%), hiện giao dịch quanh mức 1.841,6 USD/oz.

gia vang tuan toi niem tin vao vang van kha manh me 128383

Giá vàng tiếp tục đi xuống trong bối cảnh chỉ số đồng USD đi lên trong phiên này. Bên cạnh đó, lợi suất trái phiếu Kho bạc kỳ hạn 10 năm của Mỹ cũng tăng, gây thêm sức ép lên giá vàng.

Lạm phát và những bất ổn kinh tế thường hỗ trợ cho vàng. Nhưng lãi suất cao hơn sẽ làm tăng chi phí cơ hội của việc nắm giữ vàng vốn là một tài sản không sinh lời.

Nhà phân tích Xiao Fu của ngân hàng Bank of China International (Trung Quốc) cho biết, áp lực từ việc Cục Dự trữ liên bang Mỹ (Fed) tăng lãi suất và đồng USD mạnh lên lớn hơn bất kỳ nhu cầu trú ẩn an toàn nào trước các nỗi lo về suy thoái kinh tế.

Tuy nhiên, theo các chuyên gia, thị trường vàng vẫn ở vị trí lành mạnh, ngay cả khi Fed dự kiến ​​sẽ tăng lãi suất lên gần 3,5% trong năm nay và có khả năng lên 4% vào năm tới.

Trong một cuộc phỏng vấn với Kitco News, Milling-Stanley, trưởng chiến lược gia vàng tại State Street Global Advisors cho biết, dù thế nào quyết định mà Fed đưa ra sẽ tích cực đối với vàng. Nếu Fed không tăng lãi suất đủ nhanh, thì lạm phát sẽ tiếp tục tăng và nếu lãi suất tăng quá nhanh, nền kinh tế sẽ có nguy cơ suy thoái. Cả hai kịch bản này đều mang đến tín hiệu tích cực đối với kim loại quý. Và cho dù Fed có lựa chọn kịch bản nào, các nhà đầu tư vàng đều thắng.

Những rủi ro gia tăng đối với nền kinh tế Mỹ cũng được phản ánh trong các dự báo kinh tế mới nhất của Fed. Fed cho biết, GDP của Mỹ có thể tăng 1,7% trong hai năm tới - giảm mạnh so với mức dự báo GDP trước đó là 2,8% và 2,2%.

Mặc dù lập trường chính sách tiền tệ tích cực Fed sẽ bắt đầu thúc đẩy lợi suất thực tế cao hơn, khiến vàng giảm giá nhưng chuyên gia Milling-Stanley cho rằng, các nhà đầu tư cần tập trung vào bối cảnh lớn hơn. Lãi suất thực sẽ không đủ cao để giúp các nhà đầu tư yên tâm trước sự không chắc chắn của nền kinh tế.

Theo ông Milling-Stanley, vàng sẽ tiếp tục là một yếu tố đa dạng hóa danh mục đầu tư quan trọng khi cả thị trường cổ phiếu và trái phiếu đều bán tháo. Ông nói: “Bất chấp lãi suất tăng, vàng vẫn là tài sản phòng vệ tốt nhất mà các nhà đầu tư cần. Trung bình, các nhà đầu tư nên nắm giữ khoảng từ 2-10% vàng trong danh mục đầu tư".

Edward Moya, nhà phân tích tại OANDA cũng nhận định: "Vàng bắt đầu hấp dẫn do nhà đầu tư lo ngại kinh tế Mỹ đi xuống. Khi đà tăng của USD đã chạm đỉnh và nhà đầu tư giờ chuyển hướng sang tài sản trú ẩn, triển vọng của kim loại quý khá sáng sủa".

gia vang tuan toi niem tin vao vang van kha manh me 128383

Tuần này, trong số 15 chuyên gia tham gia cuộc khảo sát giá vàng của Kitco News, có 5 chuyên gia tương đương với 33% nhận định giá sẽ tăng trong tuần tới; 3 chuyên gia, tương đương 20%, cho rằng giá giảm; trong khi 7 người còn lại cho rằng vàng đi ngang.

Trong khi đó, với 1.145 người tham gia thăm dò trực tuyến, có 646 người, tương đương 56%, cho rằng vàng sẽ tăng giá vào tuần tới; 280 người, tương đương 24%, cho biết thấp hơn, trong khi 219 người còn lại, tương đương 19%, là trung lập trong thời gian tới.

gia vang tuan toi niem tin vao vang van kha manh me 128383

Tại thị trường trong nước, sáng nay, giá vàng SJC được Công ty Vàng bạc Đá quý Sài Gòn (SJC) niêm yết tại TP.HCM ở mức 67,85 - 68,65 triệu đồng/lượng, giảm 100 nghìn đồng/lượng ở cả hai chiều mua - bán so với cùng thời điểm phiên trước đó.

Tại Hà Nội, giá vàng SJC được niêm yết ở mức 67,85 - 68,67 triệu đồng/lượng, giảm 100 nghìn đồng/lượng ở cả hai chiều mua - bán so với cùng thời điểm phiên trước đó.

Trong khi đó, giá vàng DOJI tại Hà Nội được niêm yết tại 67,90 - 68,70 triệu đồng/lượng, không đổi so với cùng thời điểm phiên trước đó.

Tại TP.HCM giá vàng DOJI đang được niêm yết ở mức 67,90 - 68,60 triệu đồng/lượng, tăng 250 nghìn đồng/lượng ở giá mua và 250 nghìn đồng/lượng ở giá bán so với cùng thời điểm phiên trước đó.

P.L

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,40
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Cake by VPBank
0,10
-
-
-
4,80
-
4,90
7,40
-
8,00
8,10
ACB
-
0,20
0,20
0,20
4,00
4,10
4,20
5,50
5,70
6,20
6,90
Sacombank
-
-
-
-
4,10
4,30
4,40
5,40
5,70
6,00
6,40
Techcombank
0,03
-
-
-
3,25
3,45
3,45
5,25
5,25
5,65
5,75
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
4,50
4,50
4,80
5,10
5,10
5,60
5,60
DongA Bank
0,20
0,20
0,20
0,20
3,80
3,80
3,80
6,60
6,70
7,20
7,50
Agribank
0,20
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,20
0,50
0,50
0,50
4,50
4,60
4,70
6,00
6,10
6,30
6,50
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.705 24.015 26.488 27.866 31.023 32.318 204.16 214.87
BIDV 23.735 24.015 26.575 27.683 31.139 32.402 203.99 213.29
VietinBank 23.718 24.018 26.607 27.727 31.399 32.409 204.47 213.47
Agribank 23.710 24.010 26.787 27.493 31.334 32.117 205.87 211.70
Eximbank 23.740 23.990 26.871 27.398 31.480 32.096 206.75 210.81
ACB 23.700 24.050 26.814 27.429 31.401 31.993 206.11 211.05
Sacombank 23.730 24.030 26.953 27.513 31.568 32.084 206.29 212.66
Techcombank 23.728 24.020 26.643 27.863 31.118 32.281 205.24 214.28
LienVietPostBank 23.710 24.080 26.875 27.928 31.504 31.988 207.19 213.97
DongA Bank 23.780 24.030 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
64.700
65.720
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
64.700
65.700
Vàng SJC 5c
64.700
65.720
Vàng nhẫn 9999
52.250
53.250
Vàng nữ trang 9999
52.050
52.850