Giảm nghèo bền vững ở Đắk Nông

06:38 | 20/08/2021

Trong những năm qua, việc thực hiện tín dụng chính sách xã hội đạt hiệu quả về kinh tế - xã hội, góp phần trực tiếp thực hiện chương trình giảm nghèo bền vững của Đắk Nông. Hiệu quả của tín dụng chính sách xã hội được cấp ủy, chính quyền địa phương và nhân dân trên địa bàn ghi nhận, đánh giá cao.

giam ngheo ben vung o dak nong Tín dụng chính sách “cứu” lao động du lịch
giam ngheo ben vung o dak nong Tín dụng chính sách giúp củng cố lòng tin nhân dân
giam ngheo ben vung o dak nong Dịch COVID-19 diễn biến phức tạp, tín dụng chính sách vẫn được giải ngân kịp thời

Nâng chất lượng vốn vay ưu đãi

Đắk Nông là địa phương thuộc vùng sâu, vùng xa ở khu vực Tây Nguyên. Trên địa bàn có nhiều đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống. Vào thời điểm năm 2019, số hộ nghèo, hộ cận nghèo tại Đắk Nông là 162.832 hộ với 666.713 nhân khẩu...

Để thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia về giảm nghèo, Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh ban hành Nghị quyết số 04-NQ/TU về công tác giảm nghèo bền vững, giai đoạn 2016-2020, các cấp ủy đảng, chính quyền, mặt trận và đoàn thể quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo trực tiếp, thu hút sự tham gia của cả hệ thống chính trị, tạo được sự đồng thuận của nhân dân trong công tác giảm nghèo bền vững trên địa bàn.

giam ngheo ben vung o dak nong
Hiệu quả của tín dụng chính sách trên địa bàn Đắk Nông được ghi nhận, đánh giá cao

Để chủ động trong việc triển khai cho vay, hàng năm Ban đại diện Hội đồng quản trị Ngân hàng Chính sách xã hội cấp tỉnh, huyện chỉ đạo Ngân hàng Chính sách xã hội phối hợp với các sở ngành, UBND các xã, phường, thị trấn thực hiện rà soát và xây dựng kế hoạch về nguồn vốn từ cơ sở; Từ đó, phân bổ nguồn vốn về cho các huyện, thành phố và các xã ngay sau khi nhận được quyết định giao chỉ tiêu kế hoạch. Kịp thời đáp ứng nhu cầu vốn của bà con nhân dân trên địa bàn. Bên cạnh đó, các tổ tiết kiệm và vay vốn thực hiện nghiêm túc việc kiểm tra, giám sát trước, trong và sau cho vay để đảm bảo nguồn vốn đến đúng đối tượng thụ hưởng.

Trong giai đoạn 2016-2020, Đoàn đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân tỉnh, huyện đã tổ chức nhiều đợt giám sát việc thực hiện tín dụng chính sách xã hội trên địa bàn. Qua giám sát cho thấy, tín dụng chính sách đã đến tận tay đối tượng thụ hưởng, vốn tín dụng chính sách xã hội có mặt tại 713 thôn, bon, tổ dân phố trên địa bàn. Người dân sử dụng vốn có hiệu quả, trong đó có nhiều hộ đồng bào dân tộc thiểu số vươn lên thoát nghèo nhờ nguồn vốn tín dụng chính sách...

Gia đình bà H’Hạnh, ở bon Ka La Dạ, xã Quảng Khê, (Đắk Glong), vốn là hộ nghèo ở địa phương. Năm 2014, bà được vay 30 triệu đồng từ Ngân hàng Chính sách xã hội để phát triển sản xuất. Sau đó, bà H’Hạnh dùng số tiền này mua sắm vật tư kỹ thuật, phân bón để trồng cà phê. Khi kinh tế đã khá hơn, bà đã viết đơn xin thoát nghèo năm 2019 và trả số tiền này lại cho ngân hàng. Không dừng lại ở đó, gia đình lại tiếp tục vay 50 triệu đồng của Ngân hàng Chính sách xã hội dành cho đối tượng hộ cận nghèo để tiếp tục đầu tư sản xuất, phát triển các mô hình sản xuất, từng bước ổn định và phát triển kinh tế... Bà H’Hạnh chia sẻ, từ hộ nghèo, nhờ nguồn vốn tín dụng chính sách, gia đình tôi đã thoát nghèo, đến nay kinh tế gia đình đã ổn định hơn trước rất nhiều.

Nhằm nâng chất lượng tín dụng chính sách trên địa bàn Đắk Nông, việc lồng ghép, phối hợp giữa chính sách tín dụng ưu đãi của Nhà nước với chính sách khuyến nông, khuyến lâm, khuyến công, khuyến ngư, chuyển giao khoa học kỹ thuật... được chú trọng. Ông Đào Thái Hòa - Giám đốc Ngân hàng Chính sách xã hội, chi nhánh Đắk Nông cho biết, hàng năm Ngân hàng Chính sách xã hội phối hợp với cơ quan khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư... tổ chức hội thảo đầu bờ, hướng dẫn hộ nghèo và các đối tượng chính sách các phương thức sản xuất kinh doanh phù hợp với điều kiện tự nhiên, định hướng phát triển kinh tế ngành của địa phương, vận động hộ nghèo và các đối tượng chính sách khác áp dụng khoa học kỹ thuật trong sản xuất kinh doanh.

Đặc biệt, nhằm tạo điều kiện cho các đối tượng vay vốn gặp rủi ro do nguyên nhân khách quan (thiên tai, dịch bệnh...) khắc phục khó khăn, tiếp tục có vốn để sản xuất, địa phương thực hiện tốt công tác xử lý nợ bị rủi ro do nguyên nhân khách quan, đảm bảo việc xử lý nợ bị rủi ro chính xác, kịp thời, đồng thời bổ sung nguồn vốn tạo điều kiện để người vay tiếp tục đầu tư khôi phục sản xuất, thoát nghèo vươn lên, tránh nguy cơ tái nghèo. Trong giai đoạn 2016-2020, Ngân hàng Chính sách xã hội, Chi nhánh Đắk Nông đã trình cấp có thẩm quyền khoanh nợ cho 217 khách hàng bị rủi ro với số tiền là 5.004 triệu đồng và cấp có thẩm quyền xóa nợ cho 556 khách hàng với số tiền 9.334 triệu đồng.

“Phủ sóng” tín dụng chính sách

Có thể nói, trong những năm qua, việc thực hiện tín dụng chính sách xã hội đạt hiệu quả về kinh tế - xã hội, góp phần trực tiếp thực hiện chương trình giảm nghèo bền vững của Đắk Nông. Hiệu quả của tín dụng chính sách xã hội được cấp ủy, chính quyền địa phương và nhân dân trên địa bàn ghi nhận, đánh giá cao.

Trong giai đoạn 2015 - 2020, vốn tín dụng chính sách xã hội trên địa bàn đã góp phần giúp 10.633 hộ vượt qua ngưỡng nghèo; thu hút, tạo việc làm và duy trì, mở rộng việc làm cho 5.846 lao động; 3.328 học sinh, sinh viên có hoàn cảnh khó khăn được vay vốn học tập; xây dựng 62.470 công trình nước sạch, vệ sinh môi trường nông thôn; 1.087 căn nhà ở cho hộ nghèo; góp phần giúp cho 29.122 lượt hộ cư trú tại các xã vùng khó khăn tiếp cận nguồn vốn phục vụ nhu cầu sản xuất kinh doanh, hoạt động thương mại trên địa bàn nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội các xã khu vực khó khăn, giảm khoảng cách phát triển giữa các địa phương.

Nếu như cuối năm 2016, tỷ lệ hộ nghèo của toàn tỉnh là 19,20%, trong đó, hộ nghèo là đồng bào dân tộc thiểu số chiếm 40,38%, hộ nghèo đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ là 53,79% thì đến nay, tỷ lệ hộ nghèo của Đắk Nông chỉ còn 6,98% tổng số hộ của cả tỉnh, với gần 11.800 hộ, 56.600 nhân khẩu. Như vậy, mỗi năm, Đắk Nông giảm được trên 3% số hộ nghèo, chỉ tiêu hộ nghèo giảm bình quân hằng năm vượt so với chỉ tiêu Nghị quyết 04-NQ/TU của Tỉnh ủy Đắk Nông đã đề ra.

Đến nay, nguồn vốn tín dụng chính sách xã hội đã được đầu tư đến 100% thôn, bon, tổ dân phố trên địa bàn. Trong đó, tập trung ưu tiên cho khu vực dân tộc thiểu số, vùng khó khăn, vùng sâu, vùng xa, các địa phương có tỷ lệ hộ nghèo, hộ cận nghèo cao. Về cơ bản hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ đồng bào dân tộc thiểu số có nhu cầu, đủ điều kiện đều đã được thụ hưởng tín dụng chính sách xã hội...

Nguồn vốn tín dụng chính sách xã hội đã tác động đến nhận thức, giúp hộ nghèo, hộ dân tộc thiểu số thêm tự tin, tăng dần vị thế trong xã hội; góp phần giúp hoạt động sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp từ chỗ tự cung tự cấp, tạo ra nhiều sản phẩm có lợi thế cạnh tranh trên thị trường, nhất là một số sản phẩm chủ lực như cà phê, cao su, chè, hồ tiêu và nhiều loại cây công nghiệp, rau, hoa, quả xuất khẩu. Thu nhập và đời sống vật chất, tinh thần của đồng bào các dân tộc trên địa bàn Đắk Nông không ngừng được cải thiện. Đặc biệt, nguồn vốn tín dụng chính sách còn góp sức đẩy lùi, ngăn chặn “tín dụng đen”, đối với cuộc sống của hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ mới thoát nghèo và các đối tượng chính sách khác, nhất là ở khu vực nông thôn, vùng sâu, vùng xa; góp phần củng cố hệ thống chính trị cơ sở, giữ vững ổn định an ninh, trật tự và an toàn xã hội tại một địa phương còn nhiều khó khăn như Đắk Nông.

Đắk Nông đặt mục tiêu phấn đấu hàng năm tỷ lệ hộ nghèo đồng bào dân tộc thiểu số giảm từ 3% và hộ nghèo đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ giảm từ 4% trở lên. Đến năm 2025, xóa hết nhà tạm, dột nát và giải quyết cơ bản tình trạng thiếu đất, thiếu nước phục vụ sản xuất; từng bước tạo ra nhiều sản phẩm hàng hóa có giá trị kinh tế phục vụ tiêu dùng và xuất khẩu; đảm bảo 100% trục đường liên xã được cứng hóa; trên 95% hộ dân được sử dụng điện thường xuyên và nước hợp vệ sinh. Đến năm 2030, cơ bản chấm dứt mọi hình thức nghèo ở mọi nơi...

Để đạt được mục tiêu trên, cũng theo ông Đào Thái Hòa, đơn vị sẽ tiếp tục làm tốt công tác tham mưu cho cấp ủy, chính quyền các cấp triển khai thực hiện Kết luận số 06-KL/TW của Ban Bí thư về tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 40-CT/TW về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với tín dụng chính sách xã hội; trong đó quan tâm bổ sung nguồn vốn nhận ủy thác của địa phương nhằm thực hiện mục tiêu giảm nghèo, đảm bảo an sinh xã hội, trước mắt hỗ trợ vốn cho các đối tượng bị ảnh hưởng bởi dịch Covid-19. Về lâu dài, tiếp tục thực hiện đồng bộ các giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng, từ chất lượng khâu cho vay đến hoạt động của các tổ tiết kiệm và vay vốn, hoạt động giao dịch xã, tập trung đôn đốc thu hồi, xử lý nợ đến hạn, nợ quá hạn; Tạo điều kiện cho hộ nghèo và các đối tượng chính sách nâng cao thu nhập, cải thiện cuộc sống, nâng cao trình độ nguồn nhân lực, góp phần xây dựng quê hương Đắk Nông ngày càng giàu đẹp.

Bài và ảnh Nghi Lộc - Quỳnh Chi

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,50
5,30
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,50
3,50
3,50
5,60
5,80
6,10
6,30
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,00
3,10
3,20
4,40
4,80
5,50
6,20
Sacombank
0,03
-
-
-
3,10
3,20
3,30
4,60
4,90
5,50
6,00
Techcombank
0,03
-
-
-
2,45
2,45
2,65
3,90
3,90
4,50
4,50
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,10
3,10
3,40
4,20
4,40
5,60
5,60
DongA Bank
-
0,20
0,20
0,20
3,40
3,40
3,40
5,30
5,50
5,80
6,10
Agribank
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 22.630 22.860 26.488 27.866 31.023 32.318 204.16 214.87
BIDV 22.660 22.860 26.575 27.683 31.139 32.402 203.99 213.29
VietinBank 22.641 22.861 26.607 27.727 31.399 32.409 204.47 213.47
Agribank 22.665 22.855 26.787 27.493 31.334 32.117 205.87 211.70
Eximbank 22.670 22.850 26.871 27.398 31.480 32.096 206.75 210.81
ACB 22.670 22.850 26.814 27.429 31.401 31.993 206.11 211.05
Sacombank 22.660 22.875 26.953 27.513 31.568 32.084 206.29 212.66
Techcombank 22.650 22.860 26.643 27.863 31.118 32.281 205.24 214.28
LienVietPostBank 22.660 22.860 26.875 27.928 31.504 31.988 207.19 213.97
DongA Bank 22.690 22.850 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
56.500
57.170
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
56.500
57.150
Vàng SJC 5c
56.500
57.170
Vàng nhẫn 9999
50.550
51.450
Vàng nữ trang 9999
50.150
51.150