Giảm xuất khẩu ba loại nông sản

11:26 | 17/09/2020

Hạt tiêu, hạt điều và cà phê sau bốn tháng (5, 6, 7, 8/2020) tăng giá nhẹ, thì từ đầu tháng 9/2020 bắt đầu giảm giá và tiếp tục giảm kim ngạch xuất khẩu do tình hình dịch bệnh trên thế giới diễn biến phức tạp. Doanh nghiệp xuất khẩu và nhà nông chật vật vượt khó, kỳ vọng quý cuối của năm 2020 có chuyển biến tốt.

Xuất khẩu: Điểm sáng từ doanh nghiệp nội
Rớt giá do... Covid-19
Ảnh minh họa

Bà Nguyễn Mai Oanh, Tổng Thư ký Hiệp hội Hồ tiêu Việt Nam cho biết, mục tiêu đặt ra cho xuất khẩu mặt hàng này năm 2020 là 800 triệu USD. Nhưng tình hình thực tế thị trường từ đầu năm đến nay cho thấy, sản lượng hồ tiêu cả năm 2020 chỉ đạt khoảng 240.000 tấn, giảm 15% so với năm 2019, điều này gây thêm khó khăn cho các doanh nghiệp xuất khẩu. Và để đạt được mục tiêu xuất khẩu hồ tiêu nói trên sẽ còn nhiều khó khăn.

Tính đến hết tháng 8/2020, xuất khẩu hồ tiêu đã giảm 7,4% về khối lượng và giảm 20% về trị giá so với cùng kỳ năm 2019. Ba thị trường xuất khẩu tiêu lớn nhất của Việt Nam tiếp tục là Mỹ, Ấn Độ và Đức, chiếm 30,8% tổng trị giá xuất khẩu. Giá tiêu xuất khẩu bình quân 8 tháng năm 2020 chỉ đạt 2.169 USD/tấn, giảm 15% so với cùng kỳ năm 2019, do sự bùng phát và lây lan của dịch Covid-19 đã và đang tác động nghiêm trọng đến thương mại và chuỗi cung ứng hồ tiêu toàn cầu, trong đó có Việt Nam.

Cụ thể, xuất khẩu hồ tiêu sang nhiều thị trường đang giảm mạnh. Trong đó, Ấn Độ là thị trường giảm mạnh nhất, đến 40,2% về khối lượng và giảm 46,3% về trị giá so với cùng kỳ năm 2019. Thị phần của Ấn Độ theo đó cũng giảm từ 7,4% xuống còn 5,1%. Các doanh nghiệp chế biến hồ tiêu xuất khẩu đang chuyển hướng nghiên cứu chế biến, tăng giá trị gia tăng cho sản phẩm hồ tiêu, hạn chế xuất khẩu thô.

Tương tự, một mặt hàng nông sản xuất khẩu đứng trong top đầu thế giới là hạt điều, đến hết quý III/2020 đã giảm 3,4% về kim ngạch xuất khẩu và giảm 13,1% về giá bán so cùng kỳ năm 2019. Tại 3 thị trường lớn nhất tiêu thụ hạt điều của Việt Nam là Mỹ, Hà Lan, Trung Quốc, đến thời điểm này đều giảm 11,2% về giá so với cùng kỳ năm 2019.

Trong đó, thị trường Hà Lan tăng rất mạnh, đến 57,8% về số lượng, nhưng lại giảm 14,8% về giá so với cùng kỳ năm 2019. Ngược lại, xuất khẩu sang Trung Quốc lại giảm mạnh cả về lượng (giảm 14,9%), kim ngạch (giảm 17,5%). Sự sụt giảm xuất khẩu khiến Hiệp hội Điều Việt Nam (Vinacas) quyết định điều chỉnh hạ mục tiêu xuất khẩu hạt điều năm 2020 xuống còn 3,2 tỷ USD thay vì 4 tỷ USD đã đặt ra từ cuối năm 2019.

Theo Vinacas, nhu cầu tiêu dùng nhân điều toàn cầu từ nay đến cuối năm 2020 rất khó dự báo, bởi hạt điều không phải là sản phẩm thiết yếu, không thể thay thế trong bối cảnh dịch Covid-19 tiếp tục diễn biến phức tạp. Thực tế, tiêu thụ hạt điều trong nhà hàng, các cơ sở lưu trú, khách sạn, du lịch đã giảm mạnh do giãn cách xã hội. Tại thị trường lớn nhất là Trung Quốc, nhu cầu tiêu dùng được dự báo tiếp tục ảm đạm, kể cả ở giai đoạn cao điểm cuối năm.

Theo các doanh nghiệp trong ngành, tỷ lệ giảm giá của hạt điều thô nhìn chung thấp hơn nhiều so với tỷ lệ giảm giá của điều nhân trong cùng một thời điểm. Điều này dẫn đến việc nhiều doanh nghiệp không thể cân đối giá thành sản xuất, chế biến, buộc phải tạm ngừng hoạt động.

Đối với mặt hàng cà phê, có tín hiệu khả quan hơn là từ đầu tháng 9/2020 giá cà phê tăng mạnh do nhu cầu trên thị trường tăng, tồn kho giảm, trong khi người dân còn trữ hàng, không vội bán ra. Tuy vậy, xuất khẩu cà phê của Việt Nam trong tháng 8/2020 vẫn giảm 3,6% về lượng và giảm 0,02% về trị giá so với tháng 8/2019, nguyên nhân là do thị phần cà phê Việt Nam trong tổng nhập khẩu của Trung Quốc giảm. Trong 8 tháng năm 2020 lượng nhập khẩu cà phê Việt của Trung Quốc giảm 7,7% về lượng và giảm 9,5% về trị giá so với cùng kỳ năm 2019. Thị phần cà phê của Việt Nam trong tổng lượng nhập khẩu của Trung Quốc chiếm 33,3% thấp hơn so với 36,1% cùng kỳ năm 2019.

Theo Tổ chức Cà phê quốc tế (ICO) dự báo, nguồn cung cà phê toàn cầu sẽ thiếu hụt 486 nghìn bao, nhưng đây là con số không đáng kể, nhưng cũng khiến giá mua cà phê trên thị trường thế giới tăng nhẹ, kéo theo trong nước tăng, là điểm sáng còn lại của xuất khẩu cà phê 2020. 

Theo Cục Chế biến và Phát triển thị trường nông sản (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn), đến hết năm 2020 khả năng tăng kim ngạch xuất khẩu của ba mặt hàng nông sản thế mạnh này không có, vì vậy để đạt mục tiêu xuất khẩu (hạt tiêu, hạt điều và cà phê) đề ra từ cuối năm 2019 là rất khó, doanh nghiệp và nhà nông vẫn còn chịu nhiều áp lực.

Thanh Thanh

Nguồn:

Tin nổi bật

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
4,30
4,30
4,80
5,53
5.53
6,00
6,10
BIDV
0,10
-
-
-
3,50
3,50
3,80
4,40
4,50
6,00
6,00
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,50
3,50
3,80
4,40
4,50
6,00
6,00
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
4,00
3,80
3,80
5,60
5,80
7,20
8,40
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,70
3,80
3,90
5,10
5,30
5,70
6,50
Sacombank
-
-
-
-
3,90
4,00
4,00
5,70
6,10
6,50
6,70
Techcombank
0,10
-
-
-
3,50
3,60
3,65
5,20
5,00
5,00
5,10
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,70
3,70
4,00
4,60
4,80
6,20
6,20
DongA Bank
-
0,20
0,20
0,20
4,25
4,25
4,25
4,60
4,80
6,20
6,20
Agribank
0,10
-
-
-
3,50
3,50
3,80
4,40
4,50
6,00
6,00
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.060 23.270 26.695 28.056 29.810 31.055 209,94 219,98
BIDV 23.090 23.270 27.001 28.079 30.133 30.828 211,11 219,65
VietinBank 23.041 23.271 27.131 28.156 30.290 31.300 211,26 219,76
Agribank 23.085 23.255 27.052 27.645 30.171 30.819 211,09 219,19
Eximbank 23.080 23.250 27.118 27.588 30.283 30.809 215,11 218,84
ACB 23.090 23.260 27.148 27.622 30.479 30.889 214,57 218,55
Sacombank 23.078 23..290 27.219 27.773 30.436 30.947 214,46 220,84
Techcombank 23.072 23.272 26.907 28.120 30.003 31.136 213,40 222,52
LienVietPostBank 23.100 23.260 27.067 27.571 30.322 30.186 214,74 218,67
DongA Bank 23.110 23.240 27.100 27.580 30.260 30.800 211,60 218,40
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
56.000
56.720
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
56.000
56.700
Vàng SJC 5c
56.000
56.720
Vàng nhẫn 9999
53.900
54.550
Vàng nữ trang 9999
53.450
54.250