Huy động vốn vào năng lượng tái tạo: Không thể chỉ trông chờ ngân hàng

09:02 | 20/03/2019

Theo số liệu của Ernst & Young Solutions, nguồn tài chính đầu tư vào năng lượng xanh toàn cầu đã tăng từ 47 tỷ USD năm 2004 lên đến 335,5 tỷ USD vào năm 2017. Tính chung cả giai đoạn này, đã có gần 3.000 tỷ USD vốn đầu tư vào năng lượng xanh trên toàn thế giới...

Vì sao nhà đầu tư e ngại với “điện sạch”?
Chờ sóng lớn hơn vào năng lượng tái tạo

Kinh nghiệm của các quốc gia huy động thành công nguồn vốn này cho thấy các kênh tài chính cho năng lượng xanh rất đa dạng, không thể chỉ trông chờ vào vốn ngân hàng. 

Vốn đầu tư vào năng lượng tái tạo tăng mạnh nhưng mới đáp ứng phần nhỏ nhu cầu

Dự án khả thi, ngân hàng sẵn sàng đồng hành

Hiện nay nguồn vốn đầu tư vào lĩnh vực năng lượng xanh mới đáp ứng được một phần nhỏ nhu cầu. Đến năm 2030 dự báo cần có tới 90.000 tỷ USD để đạt được các mục tiêu khí hậu và phát triển bền vững toàn cầu. Riêng đối với khu vực ASEAN, tiềm năng quy mô thị trường tín dụng xanh ước tính khoảng 2.650 - 3.000 tỷ USD, bình quân cần tới 200 tỷ USD/năm trong giai đoạn 15 năm.

Trong đó riêng thị trường Việt Nam chiếm khoảng 16% tổng quy mô của toàn thị trường ASEAN, đứng vị trí thứ 2 chỉ sau Indonesia (chiếm 36%). Các con số này phần nào cho thấy sức hấp dẫn của thị trường năng lượng tái tạo (NLTT) Việt Nam đối với các NĐT nước ngoài và trong nước.

Bối cảnh hiện nay cho thấy, tiềm năng để phát triển NLTT của Việt Nam là lớn, thị trường có và các cơ chế khuyến khích đầu tư đã manh nha. Tuy nhiên, nhiều NĐT trong nước cho rằng vẫn khó tìm được tiếng nói chung với các tổ chức tài chính, vì vậy rất khó để tiếp cận nguồn vốn đầu tư vào NLTT.

Thời gian qua, các ngân hàng đã mạnh tay rót vốn cho các dự án năng lượng sạch, NLTT, với các gói tín dụng được thiết kế riêng. Song vẫn có không ít ý kiến cho rằng không dễ để tiếp cận nguồn vốn này. Bởi khả năng thẩm định dự án và sự hiểu biết của ngân hàng, tổ chức tài chính trong nước về dự án NLTT vẫn còn nhiều hạn chế.

Tuy nhiên, dưới góc độ một NĐT đang sử dụng hiệu quả vốn ngân hàng vào dự án NLTT, ông Lê Vĩnh Sơn - Chủ tịch Tập đoàn Sơn Hà lại cho rằng nếu chỉ trông chờ vào ngân hàng thì dự án sẽ khó khả thi. Ông chia sẻ, ngoài nguồn vốn tự có, với dự án năng lượng mặt trời, ông chọn hướng bắt tay với đối tác Pháp, với dự án nước sạch, ông hợp tác với đối tác Nhật, sau đó huy động vốn từ các cổ đông, tìm tới các quỹ đầu tư, cuối cùng mới tìm tới ngân hàng.

“Tất cả các kênh huy động vốn đều phải mở. Đối với chúng tôi, vốn ngân hàng là không thể thiếu, song cần tìm tới các nguồn từ NĐT, quỹ đầu tư trước. Bên cạnh đó, tôi cho rằng vẫn phải đợi cho ngành này phát triển mạnh hơn và có bằng chứng của việc đầu tư, thu hồi được vốn, sau đó mới có thể thuyết phục các quỹ đầu tư, tổ chức tài chính cũng như ngân hàng nhìn thấy hiệu quả và đồng hành với NĐT”, ông Sơn nêu quan điểm. 

Bên cạnh đó, các chuyên gia tài chính cho rằng để có thể đáp ứng được nhu cầu của DN, các tổ chức tài chính, ngân hàng và DN phải xây dựng được tiếng nói chung bằng các cơ chế cụ thể. Ví dụ, tổ chức tài chính phải khảo sát, đánh giá và thẩm định các dự án một cách kỹ càng, xác định phương án làm thế nào để giảm chi phí và rủi ro. Ngoài ra, DN cũng cần chia sẻ lộ trình, kế hoạch hành động của mình để ngân hàng hiểu.

Cần đa dạng các công cụ tài chính

Từ góc nhìn của các NĐT nước ngoài, rào cản đối với việc phát triển dự án NLTT tại Việt Nam đang tập trung nhiều ở chính sách hơn là nguồn vốn. Ông Russell Marsh, chuyên gia của Ernst & Young Solutions đã chỉ ra các nguyên nhân khiến NĐT chưa thực sự hào hứng với dự án NLTT, mặc dù tiềm năng của lĩnh vực này rất lớn.

Theo đó, lý do đầu tiên là giá điện của Việt Nam thuộc loại thấp nhất trong khu vực ASEAN, khiến các NĐT lo ngại về tỷ lệ hoàn vốn của dự án NLTT khi giá điện thậm chí có thể chưa đủ trả chi phí sản xuất. Ông phân tích, khung giá bán điện hiện nay chưa ổn định. Biểu giá bán hỗ trợ của năng lượng mặt trời chỉ áp dụng cho các dự án có thể đạt được thời hạn vận hành thương mại vào tháng 6/2019. Việc xem xét kéo dài ngày hết hạn của biểu giá bán điện mặt trời thể hiện sự chặt chẽ đối với các NĐT và có thể ngăn cản việc đầu tư của họ.

Bên cạnh đó, quá trình thực hiện dự án tại Việt Nam dài do các thủ tục thực hiện dự án và thu hồi đất kéo dài, dẫn đến chậm trễ. Lý do cuối cùng mới là thị trường tài chính kém phát triển do quy mô nhỏ. Cấu trúc thị trường trái phiếu chưa đủ mạnh, do trái phiếu Chính phủ vẫn chiếm phần lớn. Vừa qua Việt Nam đã bắt đầu phát hành được các loại trái phiếu có kỳ hạn dài hơn, song vẫn chưa đủ dài để tài trợ đối với các dự án NLTT. Ngoài ra, do kém phát triển nên thị trường tài chính vẫn chưa sẵn sàng cho các loại công cụ tài chính mới như trái phiếu xanh.

Tại Việt Nam, trong năm 2016 Chính phủ đã 2 lần thí điểm phát hành trái phiếu xanh. Cụ thể là 4 triệu USD được tỉnh Vũng Tàu phát hành cho dự án cấp nước; 23 triệu USD được TP. Hồ Chí Minh phát hành cho các dự án cấp nước và thích ứng với biến đổi khí hậu. Tuy nhiên ông Russell Marsh cho rằng con số này chỉ là “muối bỏ bể” so với quy mô của thị trường trái phiếu xanh quốc tế đã lên đến 155,5 tỷ USD năm 2017 và với mức tăng trưởng 78%/năm dự kiến lên tới 250 tỷ USD năm 2018.

Đó là chưa kể các giao dịch cho vay dự án năng lượng xanh thường thành công khi có sự tham gia của các tổ chức tài chính như Ngân hàng Thế giới hay Ngân hàng Phát triển châu Á. Hiện tất cả các nguồn tài chính này còn rất hạn hẹp, vì vậy DN trong nước chủ yếu tìm nguồn tài trợ từ ngân hàng.

Trước thực trạng này, các chuyên gia quốc tế khuyến nghị Việt Nam cần hài hoà các chính sách tài chính, môi trường và xem xét chính sách giá năng lượng để cho phép có mức giá hợp lý hơn. Cùng với đó, phát triển các phương tiện tài chính tạo điều kiện cho nguồn tài chính dài hạn và giảm thiểu rủi ro, ví dụ phát triển thị trường trái phiếu trong nước, xây dựng các quỹ đầu tư… Sử dụng sáng tạo các sản phẩm tài chính mới và truyền thống, ví dụ chứng khoán dự phòng và trái phiếu xanh.

Bài và ảnh Ngọc Khanh

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,50
5,60
7,00
7,00
VietinBank
0,10
0,30
0,30
0,30
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
Eximbank
0,30
0,80
0,80
0,80
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
7,70
8,40
ACB
0,30
0,80
0,80
0,80
5,00
5,00
5,00
6,30
6,40
6,80
7,60
Sacombank
0,30
-
-
-
4,90
4,95
5,00
6,30
6,40
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,00
4,00
4,00
5,90
5,50
6,00
6,10
LienVietPostBank
0,10
0,80
0,80
0,80
4,90
4,90
5,00
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,00
5,00
5,00
7,00
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,40
6,80
6,80
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.460 23.650 25.380 26.593 28.435 29.445 210,44 221,18
BIDV 23.520 23.700 25.769 26.623 28.840 29.445 213,23 221,80
VietinBank 23.400 23.650 25.352 26.577 28.529 29.499 213,02 222,12
Agribank 23.540 23.690 24.749 25.272 26.830 27.349 209,08 213,60
Eximbank 23.460 23.670 25.654 26,272 28.866 29.542 216,37 221,59
ACB 23.490 23.660 25.743 26.151 29.006 29.391 216,86 220,30
Sacombank 23.495 23.680 25.776 26.341 28.973 29.491 216,32 222,70
Techcombank 23.480 23.640 25.489 26.462 28.591 29.534 215,46 222,41
LienVietPostBank 23.460 23.630 25.427 26.417 28.563 29.539 212,77 223,93
DongA Bank 23.520 23.650 25.750 26.180 28.980 29.490 213,60 220,40
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
46.700
47.920
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
46.700
47.900
Vàng SJC 5c
46.700
47.920
Vàng nhẫn 9999
44.200
45.400
Vàng nữ trang 9999
43.900
45.200