Jerome Powell: Fed đang đối mặt xung đột mục tiêu

09:40 | 30/09/2021

Giải quyết thách thức lạm phát cao trong khi tỷ lệ thất nghiệp vẫn gia tăng là vấn đề cấp bách nhất mà Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) phải đối mặt ở thời điểm này, Chủ tịch Fed Jerome Powell cho biết hôm thứ Tư, thừa nhận hai mục tiêu của ngân hàng trung ương tiềm ẩn xung đột.

jerome powell fed dang doi mat xung dot muc tieu
Chủ tịch Fed Jerome Powell

"Đây là tình huống mà chúng ta đã từng phải đối mặt trong quá khứ đã rất lâu rồi, khi đó cũng đã có sự xung đột giữa hai mục tiêu của ngân hàng trung ương, lạm phát cao và vượt xa mục tiêu nhưng dường như thị trường lao động lại có sự sụt giảm", Powell nói tại một diễn đàn của Ngân hàng Trung ương châu Âu, đề cập đến giai đoạn những năm 1970, khi nền kinh tế Mỹ trong tình trạng tỷ lệ thất nghiệp cao nhưng giá cả tăng nhanh.

Thị trường lao động Mỹ hiện nay đang kém hơn so với giai đoạn trước đại dịch 5 triệu việc làm. Tại cuộc họp gần đây nhất của Fed, các nhà hoạch định chính sách đã nâng dự báo lạm phát năm nay lên 4,2%, hơn gấp đôi so với mục tiêu 2%, đồng thời dự báo tốc độ tăng giá sẽ giảm xuống vào năm 2022, còn 2,2%, nhưng vẫn cao hơn chút ít so với dự báo đưa ra hồi tháng Sáu.

Powell cho biết Fed dự đoán lạm phát sẽ tự giảm bớt khi nền kinh tế toàn cầu trở lại hoạt động bình thường sau khi mở cửa trở lại - cơ sở để người đứng đầu ngân hàng trung ương giữ quan điểm việc tăng lãi suất vẫn còn cần thêm "một khoảng thời gian nữa".

Nhưng khi được hỏi về mối quan tâm lớn nhất của ông lúc này, Powell đề cập đến sự xung đột có thể xảy ra giữa hai mục tiêu của Fed là giá cả ổn định và toàn dụng lao động. Điều này cingx có nghĩa đây là một tình huống có thể buộc Fed phải đánh đổi giữa hai mục tiêu này bằng cách tăng lãi suất để kiểm soát giá cả, ngay cả khi họ vẫn muốn thúc đẩy tăng trưởng việc làm.

"Kiểm soát tương quan đó là ưu tiên cao nhất và quan trọng nhất đối với Fed trong vài năm tới, và nó sẽ rất thách thức", Powell thừa nhận.

Những bình luận nói trên là một trong những bình luận trực tiếp nhất mà người đứng đầu Fed đưa ra về một chủ đề mà các nhà hoạch định chính sách đã cố gắng tránh nói đến: Lạm phát cao hiện nay, nếu kéo dài, có buộc họ phải bắt đầu thắt chặt chính sách tiền tệ trước khi hoàn thành mục tiêu "toàn dụng lao động" và "chữa lành" hoàn toàn những mất mát vì đại dịch của thị trường việc làm.

Thông thường, tỷ lệ thất nghiệp và lạm phát có quan hệ nghịch biến, một phần do chính sách tiền tệ và việc sử dụng lãi suất để kích thích hoặc làm giảm nhu cầu về hàng hóa và dịch vụ, do đó ảnh hưởng đến giá cả và chi phí nhân công.

Mối quan hệ đó dường như yếu đi trong những năm gần đây, với lạm phát thấp luôn tồn tại song song với thị trường lao động rất "chặt chẽ" với tỷ lệ thất nghiệp thấp.

Nhưng, những cú sốc về nguồn cung toàn cầu do đại dịch gây ra đã tạm thời khôi phục lại mối quan hệ nghịch đảo trên, khi khiến sự sẵn có của hàng hóa và dịch vụ giảm xuống mức thấp hơn so với nhu cầu thực tế.

Vấn đề bây giờ là sự chênh lệch đó kéo dài bao lâu, và liệu lạm phát có thể dai dẳng đến mức vượt quá sự chịu đựng và buộc Fed phải bắt đầu tăng lãi suất sớm hơn khi tỷ lệ thất nghiệp vẫn ở mức cao.

Những rủi ro xung quanh lạm phát tăng cao đã khiến một nửa số quan chức Fed bỏ phiếu cho việc tăng lãi suất bắt đầu từ năm tới, và trong khi thị trường việc làm được kỳ vọng có thể "đạt được tiến bộ rõ rệt" cho tới lúc đó thì Powell trong nhận xét của mình cho biết những khó khăn xung quanh việc sớm mở cửa trở lại của các nền kinh tế trên thế giới đã trở nên đầy thách thức.

"Thật đáng buồn khi phải thừa nhận rằng việc đưa người dân đi tiêm phòng và nỗ lực kiểm soát biến chủng Delta của vi-rút SARS-CoV-2 vẫn là chính sách quan trọng nhất mà chúng ta thực thi suốt 18 tháng nay", Powell nói khi trả lời câu hỏi về triển vọng kinh tế Mỹ. "Và cũng thật bực bội khi nhận thấy các nút thắt cổ chai và các vấn đề của chuỗi cung ứng không được cải thiện mà dường như đang ngày càng kém đi".

“Chúng tôi nhận thấy điều đó có thể tiếp tục diễn ra trong năm tới và khiến cho lạm phát tăng kéo dài hơn chúng tôi nghĩ", Powell nói. "Nhưng cuối cùng, các đồng nghiệp của tôi tại Fed và tôi vẫn cho rằng năm tới là một năm khá khởi sắc với tốc độ tăng trưởng khá và tỷ lệ thất nghiệp đạt mức thấp hơn đáng kể so với hiện tại".

Trước đó, các quan chức Fed tại cuộc họp hồi đầu tháng này đã hạ dự báo tăng trưởng GDP của Mỹ trong năm nay, nhưng nâng cấp ước tính cho năm tới, phản ánh nhận định các cân đối lớn của năm nay sẽ gặp thách thức bởi các vấn đề về nguồn cung và những trở ngại đó sẽ mất dần vào năm 2022.

M.Hồng

Nguồn:

Tin nổi bật

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,50
5,30
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,50
3,50
3,50
5,60
5,80
6,10
6,30
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,00
3,10
3,20
4,40
4,80
5,50
6,20
Sacombank
0,03
-
-
-
3,10
3,20
3,30
4,60
4,90
5,50
6,00
Techcombank
0,03
-
-
-
2,45
2,45
2,65
3,90
3,90
4,50
4,50
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,10
3,10
3,40
4,20
4,40
5,60
5,60
DongA Bank
-
0,20
0,20
0,20
3,40
3,40
3,40
5,30
5,50
5,80
6,10
Agribank
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 22.560 22.870 26.488 27.866 31.023 32.318 204.16 214.87
BIDV 22.600 22.880 26.575 27.683 31.139 32.402 203.99 213.29
VietinBank 22.565 22.865 26.607 27.727 31.399 32.409 204.47 213.47
Agribank 22.580 22.820 26.787 27.493 31.334 32.117 205.87 211.70
Eximbank 22.650 22.850 26.871 27.398 31.480 32.096 206.75 210.81
ACB 22.630 22.830 26.814 27.429 31.401 31.993 206.11 211.05
Sacombank 22.610 22.902 26.953 27.513 31.568 32.084 206.29 212.66
Techcombank 22.595 22.875 26.643 27.863 31.118 32.281 205.24 214.28
LienVietPostBank 22.640 22.840 26.875 27.928 31.504 31.988 207.19 213.97
DongA Bank 22.660 22.840 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
61.100
61.720
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
61.100
61.700
Vàng SJC 5c
61.100
61.720
Vàng nhẫn 9999
52.600
53.250
Vàng nữ trang 9999
52.250
52.950