Kích thích tăng trưởng, đừng quên lạm phát

11:13 | 30/04/2022

Các chuyên gia cho rằng, áp lực lạm phát thời gian tới chủ yếu đến từ phía cung, lạm phát chi phí đẩy. Do đó, cần kiểm soát tốt nguồn cung, chuỗi cung ứng vật tư, nhiên liệu sản xuất kể cả hàng hóa tiêu dùng giữa các vùng, giữa các địa phương với nhau, không để đứt gãy, đặc biệt, không để đứt gãy chuỗi cung ứng của thế giới với Việt Nam.

kich thich tang truong dung quen lam phat Hỗ trợ hiệu quả, sức cầu sẽ phục hồi
kich thich tang truong dung quen lam phat “Ghìm cương” lạm phát quanh 4%

Nhiều yếu tố không thuận, tăng trưởng khó đạt 6-6,5%

Chia sẻ quan điểm tại tọa đàm “Hỗ trợ và phục hồi kinh tế Việt Nam trong điều kiện bình thường mới” do Viện Nghiên cứu Kinh tế và Chính sách (VEPR) phối hợp với Viện Konrad Adenauer Stiftung (KAS) tổ chức mới đây, TS. Nguyễn Đình Cung - nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế trung ương (CIEM) thẳng thắn cho rằng, mục tiêu tăng trưởng 6-6,5% năm nay là rất khó đạt được, bởi bối cảnh hiện nay đang khác đi rất nhiều so với đầu năm.

TS. Nguyễn Đình Cung dẫn chứng một số yếu tố bên ngoài và trong nước cho nhận định của mình. Với môi trường bên ngoài, nổi lên là cuộc xung đột Nga – Ukraine và dịch bệnh Covid-19 tại Trung Quốc. Theo đó, dù tác động trực tiếp từ cuộc xung đột Nga - Ukraine là không nhiều, nhưng tác động gián tiếp (qua giá cả năng lượng, hàng hóa tăng rất cao và nguy cơ sụt giảm về tăng trưởng, nhu cầu của các đối tác chủ yếu của Việt Nam) có thể rất lớn. Trong khi dịch Covid-19 bùng phát ở Trung Quốc - một đối tác rất lớn đối với Việt Nam - và nước này vẫn theo đuổi chính sách Zero Covid. “Có lẽ sự đứt gãy chuỗi cung ứng vì dịch và chống dịch ở Trung Quốc sẽ ở mức nghiêm trọng hơn mức chúng ta dự tính. Đó là những yếu tố bên ngoài tác động tới sự phục hồi của kinh tế Việt Nam”, ông Cung nói.

kich thich tang truong dung quen lam phat
Giá cả nguyên nhiên vật liệu đầu vào của sản xuất đang có xu hướng tăng cao

Không chỉ môi trường bên ngoài, tình hình trong nước cũng có điểm khác. Trong đó, sức “nóng” của lạm phát đang nóng hơn so với trước đây, nguy cơ bất ổn kinh tế vĩ mô hiện hữu hơn và những rủi ro của thị trường tài chính nhiều khả năng sẽ tác động tới tăng trưởng kinh tế. “Với những điểm mới khác biệt hơn và mang tính rủi ro, tác động không thuận như vậy, việc giữ mục tiêu tăng trưởng 6-6,5% có gì đó không logic. Cá nhân tôi thiên về khả năng tăng trưởng năm nay chỉ như dự báo của WB mới đây (theo đó dự báo tăng trưởng kinh tế năm nay chỉ đạt mức 5,3% theo kịch bản cơ sở)”, ông Cung nói. Cũng theo chuyên gia này, để có thể đạt được mục tiêu đặt ra thì đòi hỏi phải có những chính sách, nỗ lực thực thi cải cách tốt hơn, mạnh mẽ và mang tính bước ngoặt hơn.

Lạc quan hơn, TS. Trần Toàn Thắng - Trưởng ban Dự báo kinh tế ngành và doanh nghiệp, Trung tâm Thông tin và Dự báo kinh tế, xã hội quốc gia cho rằng, với những diễn biến tích cực của kinh tế Việt Nam gần đây, tăng trưởng năm nay có thể ở mức từ 6-6,5%. “Trong thời gian còn lại của năm 2022, nhiều yếu tố sẽ hỗ trợ tích cực cho quá trình phục hồi và tăng trưởng kinh tế”, TS. Trần Toàn Thắng nói và chỉ ra một số lực đẩy cho tăng trưởng năm nay. Trong đó, điều kiện cơ sở cho quá trình phục hồi là chính sách mở cửa nền kinh tế hoàn toàn từ 15/3/2021 khi tỷ lệ tiêm chủng cao cho phép Chính phủ gỡ bỏ các biện pháp kiềm chế đại dịch nghiêm ngặt, quyết tâm phục hồi và phát triển kinh tế để không “lỡ nhịp” với đà phục hồi của kinh tế thế giới đang được thể hiện rất rõ.

Bên cạnh đó, sự phục hồi của thị trường lao động cũng là điều kiện quan trọng cho phục hồi sản xuất. Theo dự báo của VEPR, thị trường lao động phục hồi và các biện pháp kích cầu khác sẽ thúc đẩy tăng trưởng công nghiệp ở mức 9,5% vào năm 2022, đóng góp 3,6% vào tăng trưởng GDP. Khu vực ngoại thương cũng được kỳ vọng tiếp tục là động lực thúc đẩy tăng trưởng. Việt Nam sẽ tiếp tục hưởng lợi từ lĩnh vực xuất khẩu nhờ vào việc thực hiện các hiệp định thương mại quan trọng, dòng vốn FDI vẫn duy trì tăng trưởng cao và dòng chảy du lịch đang dần nối lại.

Phục hồi tổng cầu, chế ngự lạm phát

Tuy nhiên TS. Trần Toàn Thắng cũng thừa nhận, rủi ro, thách thức là rất lớn. Nhắc lại vấn đề giá cả tăng cao, TS. Trần Toàn Thắng chỉ ra một yếu tố cụ thể hơn để cho thấy áp lực lạm phát đang tăng lên, đó là nguy cơ nhập khẩu lạm phát đang hiện hữu, trong bối cảnh nhập khẩu (đặc biệt là nguyên, nhiên liệu cho sản xuất) cũng ngang ngửa với xuất khẩu và chỉ số giá sản xuất (PPI) ở các nước mà Việt Nam nhập khẩu chính đang gia tăng mạnh. Khi chỉ số PPI tăng mạnh ở các nước mà các doanh nghiệp Việt Nam nhập khẩu hàng hóa nguyên liệu, sẽ kéo theo lạm phát trong nước gia tăng. Ví dụ với Trung Quốc là thị trường có ảnh hưởng lớn nhất, theo tính toán của các chuyên gia, nếu PPI tại Trung Quốc tăng 5% có thể tác động làm tăng lạm phát ở Việt Nam thêm 0,5% tính đến cuối năm 2023.

Thực tế tại Việt Nam, chỉ số PPI, chỉ số giá nguyên liệu cho sản xuất đã và đang cho thấy xu hướng tăng giá sản xuất đối với khu vực công nghiệp khá rõ. Những dữ liệu trước đây cho thấy, PPI tăng cao thường dẫn tới giá tiêu dùng tăng theo với độ trễ khoảng 1,5 quý. “Như vậy, việc chỉ số PPI quý I tăng cao có thể phản ánh vào giá tiêu dùng từ quý II, quý III và thậm chí đến cuối năm. Chính vì vậy, giá cả sản xuất tăng, chi phí sản xuất tăng và kỳ vọng lạm phát cũng tăng dẫn tới giá tiêu dùng thực có thể tăng cao trong các quý tiếp theo là áp lực rất lớn đối với mục tiêu kiềm chế lạm phát dưới 4% của Chính phủ”, TS. Thắng cảnh báo.

Bên cạnh đó, khả năng tổng cầu khó phục hồi nhanh cũng là vấn đề được các chuyên gia cảnh báo. Theo TS. Trần Toàn Thắng, nhìn vào số liệu ở quý I/2022 đã cho thấy tiêu dùng phục hồi nhưng sẽ khó phục hồi nhanh trong bối cảnh thu nhập và tiết kiệm của người dân đã bị suy giảm nhiều trong 2 năm qua vì dịch bệnh và hiện tiếp tục đối mặt với giá xăng dầu tăng cao và những bất ổn bên ngoài khác gây ra những tác động gián tiếp hiện nay.

Cùng quan điểm này, PGS.TS. Vũ Sỹ Cường - Học viện Tài chính cho rằng, việc tổng cầu phục hồi rất chậm là vấn đến đáng quan ngại. “Nền kinh tế phụ thuộc vào cả tổng cung và tổng cầu. Sản xuất ra mà không tiêu thụ được khiến kinh tế không thể tăng trưởng. Do đó nếu không có các giải pháp mạnh mẽ hơn để tăng tổng cầu thì nguy cơ tăng trưởng năm nay dưới mục tiêu đặt ra là hiện hữu”, chuyên gia này nhận định.

Các chuyên gia cho rằng, áp lực lạm phát thời gian tới chủ yếu đến từ phía cung, lạm phát chi phí đẩy. Do đó, cần kiểm soát tốt nguồn cung, chuỗi cung ứng vật tư, nhiên liệu sản xuất kể cả hàng hóa tiêu dùng giữa các vùng, giữa các địa phương với nhau, không để đứt gãy, đặc biệt, không để đứt gãy chuỗi cung ứng của thế giới với Việt Nam.

Bên cạnh đó, các gói kích cầu nhằm hỗ trợ phục hồi tăng trưởng sẽ như một “cú huých“ cho tăng trưởng kinh tế, giúp cải thiện tổng cầu trong thời gian tới nếu được thực hiện đủ nhanh và hiệu quả. Vì vậy, cần quyết liệt và nhanh hơn trong triển khai các gói kích thích kinh tế đã được thông qua trong Nghị quyết 11/NQ-CP. Các chuyên gia cũng nhấn mạnh, các gói hỗ trợ phòng chống dịch có vai trò then chốt để đảm bảo cho các hoạt động kinh tế được khôi phục trở lại. Trên cơ sở kiểm soát tốt dịch bệnh, thích ứng an toàn, thì các chính sách kinh tế vĩ mô mới có thể phát huy giá trị hỗ trợ, kích thích tăng trưởng.

Đỗ Phạm

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,00
3,00
3,30
4,00
4,00
5,50
5,30
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,40
3,50
3,70
5,20
5,40
5,70
6,00
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,10
3,20
3,40
4,50
4,60
5,10
5,80
Sacombank
0,03
-
-
-
3,30
3,50
3,70
4,70
4,70
5,80
6,20
Techcombank
0,03
-
-
-
2,75
2,75
3,25
4,55
4,55
5,45
5,55
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,50
5,50
DongA Bank
0,20
0,20
0,20
0,20
3,70
3,70
3,70
5,60
5,70
6,20
6,50
Agribank
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,50
5,50
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.110 23.420 26.488 27.866 31.023 32.318 204.16 214.87
BIDV 23.130 23.410 26.575 27.683 31.139 32.402 203.99 213.29
VietinBank 23.110 23.410 26.607 27.727 31.399 32.409 204.47 213.47
Agribank 23.120 23.400 26.787 27.493 31.334 32.117 205.87 211.70
Eximbank 23.160 23.360 26.871 27.398 31.480 32.096 206.75 210.81
ACB 23.160 23.370 26.814 27.429 31.401 31.993 206.11 211.05
Sacombank 23.125 23.477 26.953 27.513 31.568 32.084 206.29 212.66
Techcombank 23.124 23.415 26.643 27.863 31.118 32.281 205.24 214.28
LienVietPostBank 23.100 23.380 26.875 27.928 31.504 31.988 207.19 213.97
DongA Bank 23.180 23.370 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
68.150
68.770
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
68.150
68.750
Vàng SJC 5c
68.150
68.770
Vàng nhẫn 9999
53.300
54.250
Vàng nữ trang 9999
53.150
53.850