Kiểm soát chất lượng tín dụng ngay từ đầu năm

16:30 | 29/01/2018

Năm 2018, NHNN đưa ra định hướng tăng trưởng tín dụng là 17% - mức không cao nên các TCTD càng phải quan tâm tới chất lượng tín dụng, chắt chiu từng đồng vốn đưa vào lĩnh vực sản xuất, lĩnh vực ưu tiên để hỗ trợ tăng trưởng kinh tế 6,7% phải được đặt lên hàng đầu.

Chất lượng tín dụng ưu tiên hàng đầu
Chất và lượng tín dụng phải luôn song hành
Dõi theo dòng tín dụng

Trong tuần qua, thị trường tiền tệ và hoạt động ngân hàng nổi lên vấn đề Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) ban hành văn bản số 563/NHNN-TTGSNH yêu cầu các tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài (TCTD) chuyển dịch cơ cấu tín dụng theo hướng ưu tiên tập trung vốn cho sản xuất, kinh doanh.

Ảnh minh họa

Theo văn bản này, Thống đốc NHNN yêu cầu các TCTD phải kiểm soát chặt chẽ tốc độ tăng trưởng tín dụng theo đúng chỉ tiêu được NHNN giao, phù hợp với các giải pháp điều hành chính sách tiền tệ, tín dụng, hoạt động ngân hàng của NHNN. Các TCTD phải kiểm soát tốt chất lượng tín dụng tiêu dùng; nâng cao hiệu quả công tác xét duyệt hồ sơ, đặc biệt là các điều kiện vay vốn để hạn chế rủi ro phát sinh; giám sát chặt chẽ việc sử dụng vốn cho vay tiêu dùng nhưng thực chất là để đầu tư, kinh doanh bất động sản, chứng khoán.

Đặc biệt, các TCTD phải chuyển dịch cơ cấu tín dụng theo hướng ưu tiên tập trung vốn cho sản xuất, kinh doanh, đáp ứng đầy đủ và kịp thời nhu cầu vốn đối với các lĩnh vực ưu tiên. Những nội dung liên quan đến nâng cao chất lượng tín dụng được khẳng định trong Hội nghị triển khai nhiệm vụ ngân hàng năm 2018, Chỉ thị số 01 và nay ban hành thêm văn bản 563 trên cho thấy, NHNN đặc biệt quan tâm đến quản lý dòng vốn cho vay.

Câu chuyện tăng trưởng tín dụng trong năm 2017 cũng đã nhận được sự quan tâm của các chuyên gia, giới DN và cả cơ quan điều hành. Hồi đầu năm chúng ta đã đưa ra mục tiêu định hướng với tăng trưởng tín dụng khoảng 18% - 20%, sau đó để hỗ trợ cho tăng trưởng kinh tế Chính phủ đã “bật đèn xanh” cho ngành Ngân hàng có thể đưa tín dụng lên 21%-22%. Tuy nhiên, kết thúc năm, chúng ta vừa đạt được mức tăng trưởng kinh tế vượt mục tiêu nhưng tốc độ tăng trưởng tín dụng không quá cao. Điều này cho thấy hướng dòng vốn đi vào thực chất mới là quan trọng.

Khi nói về con số tăng trưởng tín dụng năm 2017 là 18,17%, Thống đốc NHNN Lê Minh Hưng cho rằng, tăng trưởng tín dụng đã đi kèm với chất lượng và chuyển dịch cơ cấu, góp phần thiết thực cho tăng trưởng kinh tế. Không những thế, việc tín dụng đi đúng vào lĩnh vực sản xuất thực đã đóng góp rất thiết thực vào chuyển dịch cơ cấu kinh tế.

Trong bối cảnh nền kinh tế chúng ta đang tiếp tục thực hiện tái cơ cấu ngành nông nghiệp, khuyến khích sản xuất hàng hóa xuất khẩu, ưu tiên DNNVV thì chỉ đạo của NHNN là rất cần thiết.

Đặc biệt, thị trường chứng khoán đón nhận những thông tin tốt khi chỉ số Vn-Index vượt 1.000 điểm và dự báo có thể đạt 1.300 điểm vào cuối năm 2018, rồi thị trường bất động sản phục hồi mạnh thì sự cảnh báo tín dụng với hai lĩnh vực này của cơ quan quản lý về tiền tệ là không thừa chút nào. Quá khứ, cũng đã từng xảy ra hiện tượng tín dụng vào lĩnh vực chứng khoán và bất động sản tăng ở mức khá cao, trong số đó có không ít món vay “núp dưới cái bóng” cho vay tiêu dùng và hệ lụy là nợ xấu phát sinh mà đến nay chúng ta vẫn đang phải nỗ lực xử lý.

Năm 2018, NHNN đưa ra định hướng tăng trưởng tín dụng là 17% - mức không cao nên các TCTD càng phải quan tâm tới chất lượng tín dụng, chắt chiu từng đồng vốn đưa vào lĩnh vực sản xuất, lĩnh vực ưu tiên để hỗ trợ tăng trưởng kinh tế 6,7% phải được đặt lên hàng đầu. Mà để đạt được mục tiêu trên thì ngay từ bây giờ, trong tháng đầu của năm ngành Ngân hàng đã phải quán triệt nhiệm vụ để tránh xảy ra hiện tượng “nước đến chân mới nhảy”.

Chí Kiên

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,00
3,00
3,30
3,90
3,90
5,60
5,40
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,50
3,50
3,50
5,60
5,80
7,20
8,40
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,00
3,10
3,30
4,40
5,00
6,20
6,20
Sacombank
-
-
-
-
3,30
3,40
3,50
5,00
5,10
5,70
6,00
Techcombank
0,03
-
-
-
2,65
2,75
2,85
4,20
4,20
4,40
4,90
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,70
3,70
3,80
4,60
4,80
6,20
6,20
DongA Bank
-
0,20
0,20
0,20
3,60
3,60
3,60
5,50
5,70
6,00
6,30
Agribank
0,10
-
-
-
3,60
3,60
3,60
5,50
5,70
6,00
6,30
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 22.920 23.150 27.591 28.506 30.510 31.785 215,75 226,99
BIDV 22.947 23.147 27.760 28.872 30.667 31.563 217,28 226,03
VietinBank 22.939 23.149 27.852 28.957 30.988 31.998 217,30 226,30
Agribank 22.980 23.160 27.785 28.479 30.918 31.669 219,50 225,66
Eximbank 22.960 23.150 27.939 28.461 30.994 31.573 220,96 225,08
ACB 22.950 23.130 27.958 28.460 31.172 31.604 220,83 225,02
Sacombank 22.930 23.162 28.038 28.593 31.150 31.655 220,76 227,12
Techcombank 22.943 23.143 27.717 28.940 30.710 31.855 219,56 228,84
LienVietPostBank 22.950 23.130 27.067 27.571 30.322 31.186 214,74 218,67
DongA Bank 22.970 23.130 27.930 28.430 31.030 31.580 217,40 224,40
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
55.770
56.140
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
55.770
56.120
Vàng SJC 5c
55.770
56.140
Vàng nhẫn 9999
51.850
52.450
Vàng nữ trang 9999
51.450
52.150