Kinh tế Trung Quốc vẫn đối mặt với nhiều khó khăn

08:57 | 26/10/2022

Nền kinh tế Trung Quốc phục hồi với tốc độ nhanh hơn dự đoán trong quý III, nhưng sự phục hồi mạnh mẽ hơn trong dài hạn sẽ bị thách thức bởi các biện pháp kiểm soát dịch Covid-19, sự suy giảm của thị trường bất động sản và rủi ro suy thoái toàn cầu.

Số liệu do Tổng cục Thống kê Trung Quốc công bố hôm 24/10 cho thấy, nền kinh tế lớn thứ hai thế giới tăng trưởng 3,9% trong quý III so với một năm trước đó, cao hơn nhiều so với mức tăng trưởng 0,2% của quý II và cũng cao hơn so với mức 3,4% theo dự báo của các chuyên gia kinh tế tham gia cuộc khảo sát của Reuters. Tuy nhiên con số này vẫn thấp hơn nhiều so với mục tiêu tăng trưởng 5,5% mà Trung Quốc đặt ra trong năm nay. Trên cơ sở hàng quý, GDP quý III tăng 3,9% so với quý trước sau khi giảm 2,7% trong quý II.

kinh te trung quoc van doi mat voi nhieu kho khan
Ảnh minh họa

Nền kinh tế được thúc đẩy nhờ sản xuất, với dữ liệu riêng biệt cho thấy sản lượng công nghiệp trong tháng 9 đã tăng 6,3% so với một năm trước đó, cao hơn nhiều so với mức tăng 4,2% của tháng 8 và cả mức tăng 4,5% theo dự báo của giới chuyên môn.

Xuất khẩu cũng tăng trưởng khá mạnh, qua đó đóng góp tích cực vào tăng trưởng chung. Theo đó giá trị xuất khẩu tính bằng USD trong 5,7% trong tháng 9 so với cùng kỳ năm trước, cao hơn nhiều so với dự báo của các chuyên gia được Reuters khảo sát là chỉ tăng 4,1%.

Tuy nhiên nhu cầu trong nước giảm dần vào cuối quý do sự bùng phát các trường hợp lây nhiễm Covid-19 mới dẫn đến việc đóng cửa để kiểm soát dịch, trong khi tăng trưởng xuất khẩu cũng chậm lại và lĩnh vực bất động sản tiếp tục suy giảm, cho thấy sự phục hồi vẫn rất mong manh.

Quả vậy số liệu thống kê cho thấy, doanh số bán lẻ chỉ tăng 2,5% trong tháng 9 so với một năm trước, chậm lại so với tháng 8 và thấp hơn mức 3,3% theo dự báo của các chuyên gia kinh tế tham gia cuộc khảo sát của Reuters. Việc nhập khẩu (tính bằng USD) cũng chỉ tăng 0,3% trong tháng 9 so với một năm trước, thấp hơn dự báo của giới chuyên môn, cũng phần nào cho thấy triển vọng không mấy lạc quan của cầu nội địa.

“Những dữ liệu này gửi một thông điệp quan trọng rằng ngay cả khi các biện pháp kiểm soát Covid đã trở nên linh hoạt hơn vì nó phụ thuộc vào số lượng các trường hợp lây nhiễm, việc đóng cửa vẫn là một bất ổn lớn đối với nền kinh tế với bối cảnh của cuộc khủng hoảng bất động sản”, Iris Pang - Nhà kinh tế trưởng về Trung Quốc tại ING nói.

Julian Evans-Pritchard, nhà kinh tế cấp cao về Trung Quốc tại Capital Economics cũng cho rằng: Sự gián đoạn vi-rút tái diễn sẽ tiếp tục ảnh hưởng đến hoạt động của con người và không thể loại trừ việc đóng cửa quy mô lớn hơn nữa.

Bên cạnh những rủi ro trong nước, nền kinh tế Trung Quốc còn phải chịu sức ép từ bên ngoài bởi cuộc khủng hoảng Ukraine và suy thoái toàn cầu do việc tăng lãi suất để kiềm chế lạm phát nóng.

Kết quả cuộc khảo sát mới đây của Reuters dự báo, tăng trưởng của Trung Quốc sẽ chậm lại còn 3,2% vào năm 2022, thấp hơn nhiều so với mục tiêu mà nước này đề ra là 5,5%, ghi nhận một trong những năm tăng trưởng yếu nhất của nền kinh tế lớn thứ hai thế giới trong gần nửa thế kỷ qua.

Mặc dù thời gian gần đây Trung Quốc dường như không quyết tâm theo đuổi mục tiêu tăng trưởng 5,5% bằng mọi giá, song trên thực tế các nhà hoạch định chính sách nước này đã đưa ra hơn 50 biện pháp hỗ trợ kể từ cuối tháng 5 nhằm thúc đẩy nền kinh tế để giảm bớt áp lực việc làm.

“Về mặt chính sách, chính sách tổng thể sẽ vẫn hỗ trợ”, Hao Zhou - Nhà kinh tế trưởng tại Guotai Junan International cho biết. “Theo quan điểm của chúng tôi, cần phải có thêm động lực chính sách để thúc đẩy kinh tế phục hồi, nhưng việc cắt giảm lãi suất bổ sung là khó có thể xảy ra trong thời kỳ ngân hàng trung ương toàn cầu tăng lãi suất mạnh mẽ”.

Mai Ngọc

Nguồn:

Tin nổi bật

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
4,90
4,90
5,40
6,00
6,00
7,40
7,40
BIDV
0,10
-
-
-
4,90
4,90
5,40
6,00
6,10
7,40
7,40
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
4,90
4,90
5,40
6,00
6,00
7,40
7,40
Cake by VPBank
0,10
-
-
-
4,90
-
4,95
7,90
-
8,50
8,60
ACB
-
1,00
1,00
1,00
5,50
5,60
5,70
7,00
7,20
7,40
8,10
Sacombank
-
-
-
-
5,70
5,80
5,90
8,30
8,60
8,90
9,00
Techcombank
1,00
-
-
-
5,90
5,90
5,90
8,50
8,50
8,70
8,70
LienVietPostBank
-
0,10
0,10
0,10
6,00
6,00
6,00
8,10
8,10
8,50
8,50
DongA Bank
1,00
1,00
1,00
1,00
6,00
6,00
6,00
9,35
9,45
9,50
9,50
Agribank
0,50
-
-
-
4,90
4,90
5,40
6,10
6,10
7,40
7,40
Eximbank
0,20
1,00
1,00
1,00
5,60
5,70
5,80
6,80
7,10
7,40
7,50
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.250 23.620 24.754 26.138 28.541 29.755 170.32 180.30
BIDV 23.295 23.595 24.915 26.013 28.716 29.883 170.53 178.87
VietinBank 23.258 23.618 25.021 26.156 28.886 29.896 171.64 180.19
Agribank 23.280 23.610 25.147 26.225 28.899 29.682 174.11 180.63
Eximbank 23.300 23.580 25.044 25.697 28.953 29.708 172.21 176.70
ACB 23.250 23.700 25.119 26.701 29.135 29.691 172.39 176.56
Sacombank 23.263 23.648 25.081 25.996 29.089 29.855 172.56 180.11
Techcombank 23.299 23.620 25.080 25.730 28.970 29.730 171.40 177.00
LienVietPostBank 23.270 23.850 25.088 26.320 29.058 29.881 172.21 181.04
DongA Bank 23.320 23.630 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
66.700
67.520
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
66.700
67.500
Vàng SJC 5c
66.700
67.520
Vàng nhẫn 9999
54.000
55.100
Vàng nữ trang 9999
53.700
54.700