Lạm phát của Trung Quốc có thể là vấn đề của thế giới

08:00 | 04/06/2021

Trung Quốc đang đối mặt với áp lực lạm phát trong nước, nhưng cách thức đối phó của Trung Quốc thế nào lại có thể tác động lớn đến tăng trưởng và lạm phát toàn cầu.

Cách thức khác trong đối phó với áp lực lạm phát

Cuộc khảo sát chỉ số PMI mới nhất của Trung Quốc với các nhà quản lý cung ứng cho thấy, số người lo ngại về việc giá đầu vào sản xuất tăng đã lên mức cao nhất trong một thập kỷ qua. Tuy nhiên, không giống như các giai đoạn trước đây khi lạm phát thường tăng cùng chiều với chi phí sản xuất tăng (lạm phát do chi phí đẩy), lần này CPI chưa có sự tăng mạnh đáng kể. Khoảng cách giữa chỉ số giá nhà sản xuất (PPI) và CPI của Trung Quốc đang ở mức cao nhất kể từ đầu những năm 1990. Chỉ số PPI đã tăng 6,8% trong tháng 4 vừa qua so với cùng kỳ năm ngoái, trong khi CPI cũng trong xu hướng tăng nhưng chỉ ở mức 0,9% so với cùng kỳ.

Về mặt logic, chi phí đầu vào tăng mạnh như vậy chỉ có thể được giải quyết bằng một trong hai cách: Hoặc là các doanh nghiệp sẽ phải tăng giá sản phẩm bán ra, nghĩa là sẽ đẩy lạm phát giá tiêu dùng lên cao hơn tương ứng (lạm phát do chi phí đẩy), hoặc họ có thể giữ nguyên giá hàng thành phẩm nhưng phải chấp nhận lợi nhuận bị giảm. Cả hai lựa chọn đó đều không “ngon miệng” chút nào.

lam phat cua trung quoc co the la van de cua the gioi
Biểu đồ của Gavekal Research cho thấy các giai đoạn đồng NDT ổn định, giai đoạn đồng NDT yếu đi và giai đoạn đồng NDT mạnh lên

Vậy Trung Quốc có thể đối phó với tình huống này như thế nào? Một cách tiếp cận hợp lý sẽ là cố gắng kiềm chế hoạt động đầu cơ hàng hóa để hạn chế đà tăng của giá nguyên liệu đầu vào, qua đó giảm bớt áp lực với lạm phát – đây là điều mà Trung Quốc đã làm vào tuần trước. Theo đó, chính quyền tuyên bố sẽ “không khoan nhượng” với các hành vi độc quyền và đầu cơ khiến tình trạng giá nguyên liệu thô tăng cao. Một cách khác là để cho đồng nội tệ (Nhân dân tệ - NDT) tăng giá. Điều này sẽ giúp cho giá hàng nhập khẩu rẻ hơn, từ đó cũng giúp giảm lạm phát, đồng thời cũng sẽ giúp thu hút vốn và hàng hóa chảy vào Trung Quốc. Gần đây nhất, người ta đã thấy điều này xảy ra vào năm ngoái, khi đồng NDT đã có một giai đoạn tăng giá khá mạnh.

Theo Gavekal Research, Trung Quốc đã làm được điều này mặc dù tình hình kinh tế toàn cầu vẫn còn nhiều biến động và bất định. Điều đó là khá khác thường so lịch sử trước đó, bởi trong những thời điểm căng thẳng kinh tế đang gia tăng trước đây, các nhà chức trách Trung Quốc thường quyết định phải thận trọng và cố gắng giữ cho đồng NDT ổn định.

Trung Quốc “xuất khẩu” lạm phát?

Và xu hướng đồng NDT mạnh lên cũng đang diễn ra trong thời gian vừa qua. Theo thống kê, đồng tiền này đã mạnh lên khoảng 12% kể từ tháng 5/2020 tới nay. Đồng NDT mạnh lên cũng có nghĩa là đồng USD yếu đi, kéo theo sau đó là nhiều hàm ý. Trong đó theo giới phân tích, ở thời điểm hiện tại, điều này có thể báo trước một thời kỳ mà Trung Quốc “xuất khẩu lạm phát” sang phần còn lại của thế giới, giống như nước này từng được cho là đã xuất khẩu giảm phát trong giai đoạn những năm 1990s và 2000s khi lực lượng lao động của quốc gia này tham gia thị trường thế giới với tỷ giá “rẻ” một cách “nhân tạo”.

Nhưng đồng nội tệ mạnh hơn cũng gây ra vấn đề với khả năng cạnh tranh xuất khẩu. Và NHTW Trung Quốc (PBoC) trong thông báo mới đây đã yêu cầu các ngân hàng trong nước phải tăng dự trữ ngoại hối, từ 5% lên 7%, hiệu lực từ ngày 15/6 tới. Theo ước tính, các ngân hàng tại Trung Quốc đang có khoảng 1.000 tỷ USD tiền gửi bằng ngoại tệ và việc tăng tỷ lệ dự trữ sẽ thắt chặt thanh khoản bằng ngoại tệ, khiến lãi suất tiền gửi bằng ngoại tệ tăng, từ đó làm chậm đà tăng của đồng tiền này. Trước đó vào ngày 31/5, PBoC đã nâng tỷ giá trung tâm của đồng NDT lên mức cao nhất kể từ ngày 17/5/2018.

Giới phân tích cho rằng, việc yêu cầu các ngân hàng phải tăng tỷ lệ dự trữ ngoại tệ dường như là một tín hiệu cho thấy các nhà chức trách đang muốn dừng đà tăng giá của NDT. Tuy nhiên, mục đích đằng sau chỉ để nhằm không bị suy giảm khả năng cạnh tranh xuất khẩu, chấp nhận lạm phát tăng một chút qua kênh tỷ giá này (khi NDT không hoặc không tăng giá mạnh nữa) hay còn vì yếu tố gì nữa thì vẫn phải theo dõi thêm.

Nhưng dù vì lý do gì, các động thái vừa qua của Trung Quốc cũng sẽ khiến phần còn lại của thế giới “đau đầu” hơn. Bởi, nếu Trung Quốc trở thành là người mua “ít nhiệt tình hơn” với hàng hóa toàn cầu, điều đó có thể đồng nghĩa với việc tăng trưởng toàn cầu sẽ chậm hơn kỳ vọng. Còn nếu Trung Quốc “xuất khẩu lạm phát” ra toàn cầu, rõ ràng điều này càng khiến áp lực lạm phát trên toàn cầu trở nên nghiêm trọng hơn.

Hồng Quân

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
2,90
2,90
3,20
3,80
3,80
5,50
5,30
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,50
3,50
3,50
5,60
5,80
6,20
6,30
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,00
3,10
3,20
4,40
4,80
5,50
6,20
Sacombank
-
-
-
-
3,20
3,50
3,60
5,00
5,20
5,70
6,30
Techcombank
0,03
-
-
-
2,45
2,45
2,65
3,90
3,90
4,50
4,50
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,10
3,10
3,40
4,30
4,50
5,70
5,80
DongA Bank
-
0,20
0,20
0,20
3,40
3,40
3,40
5,30
5,50
5,80
6,10
Agribank
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 22.820 23.050 27.591 28.506 30.510 31.785 215,75 226,99
BIDV 22.847 23.047 27.760 28.872 30.667 31.563 217,28 226,03
VietinBank 22.825 23.045 27.852 28.957 30.988 31.998 217,30 226,30
Agribank 22.855 23.045 27.785 28.479 30.918 31.669 219,50 225,66
Eximbank 22.850 23.060 27.939 28.461 30.994 31.573 220,96 225,08
ACB 22.850 23.030 27.958 28.460 31.172 31.604 220,83 225,02
Sacombank 22.842 23.054 28.038 28.593 31.150 31.655 220,76 227,12
Techcombank 22.827 23.047 27.717 28.940 30.710 31.855 219,56 228,84
LienVietPostBank 22.850 23.030 27.067 27.571 30.322 31.186 214,74 218,67
DongA Bank 22.870 23.030 27.930 28.430 31.030 31.580 217,40 224,40
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
56.550
57.170
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
56.550
57.150
Vàng SJC 5c
56.550
57.170
Vàng nhẫn 9999
52.550
53.150
Vàng nữ trang 9999
52.150
52.850