Lợi nhuận ngân hàng: Nên nhìn toàn diện

10:31 | 13/08/2022

Nhìn về triển vọng kinh doanh nửa cuối năm, giới chuyên môn đánh giá lợi nhuận của các ngân hàng có thể sẽ đối mặt với nhiều thách thức hơn.

loi nhuan ngan hang nen nhin toan dien Ngân hàng chủ động phòng ngừa rủi ro
loi nhuan ngan hang nen nhin toan dien Lợi nhuận của các ngân hàng so với tổng tài sản là không lớn

Cần đánh giá toàn diện

Tại buổi làm việc với các NHTM tuần trước, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính ghi nhận nỗ lực của các NHTM đã hoạt động kinh doanh hiệu quả trong bối cảnh vừa chống dịch, vừa làm trách nhiệm xã hội, vừa duy trì hoạt động kinh doanh.

“Trong môi trường điều kiện như nhau, một số ngân hàng đã thực hiện tốt công tác quản trị, hoạt động, kinh doanh hiệu quả nên đã có được được lợi nhuận khả quan”, Thủ tướng ghi nhận.

Theo nhận định của giới chuyên môn, yếu tố đầu tiên đóng góp tích cực kết quả kinh doanh của các ngân hàng những tháng đầu năm là nhờ hoạt động tín dụng. Nửa đầu năm nay, các ngân hàng có mức tăng trưởng tín dụng vượt trội, tăng 9,35% so với cuối năm trước và tăng 16,69% so với cùng kỳ năm 2021.

Bên cạnh đó, tỷ lệ nguồn vốn không kỳ hạn (CASA) của các ngân hàng tiếp tục được cải thiện tích cực cũng giúp giảm bớt chi phí vốn, cải thiện biên lợi nhuận cho các nhà băng.

loi nhuan ngan hang nen nhin toan dien
Ngân hàng đối mặt với nhiều thách thức hơn trong những tháng cuối năm.

Yếu tố thứ hai là nguồn thu nhập ngoài lãi tiếp tục duy trì xu hướng tăng trưởng ổn định, trong đó đóng góp đáng kể là nguồn thu nhập từ dịch vụ. Chẳng hạn, tại VPBank thu nhập thuần từ phí tăng 34,5% so với 6 tháng đầu năm 2021 lên gần 2.800 tỷ đồng do tăng doanh thu từ hoạt động thanh toán, kinh doanh dịch vụ bảo hiểm, quản lý tài khoản và dịch vụ thẻ.

Một yếu tố nữa cũng đóng góp tích cực vào thu nhập của ngân hàng đó là từ hoạt động xử lý thu hồi nợ. Tại VIB, thu từ nợ đã xử lý rủi ro cũng hơn 169 tỷ đồng, tăng mạnh 56% so với cùng kỳ. Hay tại VPBank thu nhập từ nợ đã xử lý đạt kết quả khả quan, tăng 26% so với cùng kỳ với trên 1,7 nghìn tỷ đồng.

Trước kết quả lợi nhuận khả quan, có ý kiến cho rằng, các ngân hàng đang có điều kiện để cắt giảm thêm lãi suất. Song thực tế là không phải ngân hàng nào cũng có lợi nhuận cao, mà có sự phân hóa. Trong số 28 ngân hàng công bố báo cáo tài chính quý II/2022, vẫn có tới 10 ngân hàng ghi nhận sự sụt giảm lợi nhuận.

Hơn nữa theo các chuyên gia, những con số lợi nhuận trên khi so với quy mô tài sản (ROA) hay vốn điều lệ (ROE) thì tỷ suất sinh lời của các ngân hàng thậm chí còn thua nhiều lĩnh vực, ngành nghề khác.

TS. Võ Trí Thành - Thành viên Hội đồng Tư vấn chính sách tài chính tiền tệ quốc gia cho rằng, so với quy mô vốn của các ngân hàng hiện nay thì lợi nhuận không phải cao. Trong khi trong bức tranh lợi nhuận của ngân hàng giai đoạn này còn nhiều khoản lãi dự thu từ khoản khoanh nợ, giãn nợ. Chưa kể sau này các khoản nợ trên lại trở thành nợ xấu ngân hàng lại phải trích lập dự phòng rủi ro… nên con số lợi nhuận chưa phản ánh đầy đủ hoạt động kinh doanh của ngân hàng.

Vẫn nhiều áp lực

Ngoài ra theo TS. Châu Đình Linh - Trường Đại học Ngân hàng TP.HCM, khi đánh giá tăng trưởng lợi nhuận không nên chỉ nhìn vào 6 tháng đầu năm mà còn phải chờ 6 tháng cuối năm liệu ngân hàng có kết quả vượt trội hay không. Xét trên nhiều yếu tố, theo vị chuyên gia này câu chuyện lợi nhuận ngân hàng vượt trội rất khó xảy ra.

Nhìn về triển vọng kinh doanh nửa cuối năm, giới chuyên môn đánh giá lợi nhuận của các ngân hàng có thể sẽ đối mặt với nhiều thách thức hơn. Trong cơ cấu lợi nhuận, tuy nguồn thu từ thu dịch vụ của các ngân hàng cải thiện, nhưng thu từ tín dụng vẫn chiếm ưu thế.

Tuy nhiên trong 6 tháng cuối năm, hoạt động cho vay của các ngân hàng khó duy trì được tốc độ như giai đoạn đầu năm. Hiện tại, nhiều ngân hàng đã sử dụng hết dư địa tăng trưởng tín dụng cho năm nay và vẫn đang chờ được giao chỉ tiêu mới. Trong khi về phía NHNN vẫn giữ nguyên mục tiêu tăng trưởng tín dụng toàn hệ thống ở mức 14%.

Như vậy, dư địa tăng trưởng tín dụng của các ngân hàng sẽ không còn dồi dào nhất là đối với ngân hàng xài gần hết room. Dự báo, con số phân bổ mới sẽ không quá rộng rãi như những năm trước đây, khi NHNN đang ưu tiên mục tiêu ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát.

Bên cạnh đó hiện các ngân hàng cũng đang đối mặt với nhiều áp lực. Đầu tiên phải kể đến chính là áp lực lạm phát đang đẩy mặt bằng lãi suất huy động tăng, trong khi các ngân hàng vẫn đang duy trì ổn định mặt bằng lãi suất cho vay ở mức thấp để hỗ trợ doanh nghiệp, khiến biên lợi nhuận có xu hướng thu hẹp.

Trong khi đó, rủi ro nợ xấu rất lớn khi nền kinh tế vẫn đối mặt với nhiều khó khăn trong bối cảnh kinh tế toàn cầu suy giảm. Nợ xấu tăng buộc các ngân hàng phải tăng trích lập dự phòng rủi ro, khiến lợi nhuận càng bị bào mòn.

Theo TS. Linh, ngân hàng cũng là DN, cũng phải đảm bảo hiệu quả kinh doanh, đảm bảo quyền lợi cho các cổ đông. Thậm chí là một loại hình doanh nghiệp đặc biệt nên sự kinh doanh hiệu quả của các ngân hàng vô cùng quan trọng đối với nền kinh tế, bởi ngân hàng có khỏe mới hỗ trợ được cho nền kinh tế.

Chưa kể, ngân hàng còn là lĩnh vực kinh doanh chịu nhiều rủi ro hơn so với các ngành nghề khác, như rủi ro tín dụng, thanh khoản, ngoại hối, hoạt động, lãi suất, đạo đức, thị trường…

“Về câu chuyện lợi nhuận phải nhìn từ cả phía rủi ro là những tổn thất có thể xảy ra đối với ngân hàng”, TS. Linh bình luận.

Tại báo cáo mới đây nhất của WB, tổ chức này cũng đánh giá, mặc dù tình hình tài chính nhìn chung được đảm bảo, nhưng chất lượng tài sản của các ngân hàng vẫn là một quan ngại và cần phải liên tục theo dõi. Vấn đề vốn mỏng ở các ngân hàng và tỷ lệ dự phòng khác nhau theo WB tiếp tục là vấn đề quan ngại.

Tuy tỷ lệ CAR tăng nhẹ lên 11,47% trong quý I/2022 (so với 11,3% trong quý I/2021) do một số ngân hàng tích cực tăng vốn chủ sở hữu và nợ trong năm qua, tận dụng tâm lý tích cực trên các thị trường vốn.

“Mặc dù tỷ lệ an toàn vốn của toàn hệ thống vẫn cao hơn yêu cầu của cơ quan quản lý Nhà nước, nhưng vẫn tương đối thấp. Tỷ lệ vốn theo quy định ở một số ngân hàng chỉ cao hơn một chút so với yêu cầu tối thiểu. Rủi ro tín dụng trong lĩnh vực bất động sản có thể tăng trong bối cảnh phương thức huy động vốn thiếu minh bạch và định giá quá cao và phần nào do đầu cơ”, WB lưu ý thêm.

Hà Thành

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,40
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Cake by VPBank
0,10
-
-
-
3,80
-
3.90
6.90
-
7.50
7.60
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,10
3,20
3,40
4,50
4,60
5,10
5,80
Sacombank
0,03
-
-
-
3,50
3,70
3,80
5,20
5,35
5,80
6,20
Techcombank
0,03
-
-
-
2,95
3,25
3,45
5,25
5,25
5,65
5,75
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,50
3,50
3,80
4,47
4,45
5,49
5,34
DongA Bank
0,20
0,20
0,20
0,20
3,80
3,80
3,80
6,10
6,20
6,70
7,00
Agribank
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,40
3,50
3,70
5,40
5,40
5,90
6,00
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.535 23.845 26.488 27.866 31.023 32.318 204.16 214.87
BIDV 23.565 23.845 26.575 27.683 31.139 32.402 203.99 213.29
VietinBank 23.545 23.845 26.607 27.727 31.399 32.409 204.47 213.47
Agribank 23.550 23.830 26.787 27.493 31.334 32.117 205.87 211.70
Eximbank 23.570 23.830 26.871 27.398 31.480 32.096 206.75 210.81
ACB 23.530 23.900 26.814 27.429 31.401 31.993 206.11 211.05
Sacombank 23.585 23.960 26.953 27.513 31.568 32.084 206.29 212.66
Techcombank 23.558 23.850 26.643 27.863 31.118 32.281 205.24 214.28
LienVietPostBank 23.520 23.990 26.875 27.928 31.504 31.988 207.19 213.97
DongA Bank 23.610 23.860 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
65.800
66.620
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
65.800
66.600
Vàng SJC 5c
65.800
66.620
Vàng nhẫn 9999
50.450
51.350
Vàng nữ trang 9999
50.350
50.950