Mỹ lo ngại “bóng ma” lạm phát

07:16 | 13/05/2022

Giá cả vẫn tăng tại Mỹ trong tháng 4, dù tốc độ đã chậm hơn so với những tháng trước, cho thấy đây vẫn là mối đe dọa lớn nhất tới sự phục hồi năm nay.

Lạm phát chậm lại nhưng lo ngại gia tăng

Theo số liệu mà Bộ Lao động Mỹ công bố hôm thứ Tư, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 4 tăng 8,3% so với một năm trước. Dù đây là mức cao hơn một chút so với dự đoán của các nhà kinh tế nhưng đã giảm nhẹ so với mức 8,5% vào tháng 3 và lần đầu tiên ghi nhận tốc độ tăng chậm lại kể từ tháng 8/2021. So sánh theo tháng, CPI tháng 4 đã tăng thêm 0,3% - dù thấp hơn mức tăng 1,2% được ghi nhận trong tháng 3 nhưng vẫn cao hơn mức 0,2% mà các nhà phân tích mong đợi. Nếu loại bỏ giá lương thực và năng lượng, lạm phát lõi trong tháng 4 tăng 0,6%, cao hơn mức tăng 0,3% trong tháng trước và cũng cao hơn mức 0,4% mà các nhà phân tích kỳ vọng. Giá tăng cũng đồng nghĩa với việc tiền lương thực tế của người lao động tiếp tục bị hao hụt. Tiền lương thực tế được điều chỉnh theo lạm phát đã giảm 0,1% trong tháng 4, mặc dù mức tăng lương danh nghĩa là 0,3% theo thu nhập bình quân hàng giờ. Trong năm qua, thu nhập thực tế đã giảm 2,6% mặc dù thu nhập trung bình theo giờ tăng 5,5%.

my lo ngai bong ma lam phat
Lạm phát tiếp tục là mối đe dọa lớn nhất tới sự phục hồi của kinh tế Mỹ

So với cùng kỳ 12 tháng kết thúc vào tháng 4, lạm phát lõi đã tăng 6,2%, cao hơn dự báo là 6% và khiến quan ngại gia tăng, làm mờ kỳ vọng rằng lạm phát đã đạt đỉnh vào tháng 3. Các chuyên gia cho rằng, lạm phát không còn chỉ “gói gọn” trong các vấn đề liên quan đến chuỗi cung ứng sản xuất. "Lạm phát phổ biến khiến việc kiềm chế càng trở nên khó khăn hơn. Trên cơ sở 12 tháng, CPI lõi trong tháng 4 cao hơn gấp ba lần mục tiêu 2% của Fed", các chuyên gia kinh tế Sarah House và Michael Pugliese của Wells Fargo đã viết trong một lưu ý gửi cho khách hàng.

Sau năm 2021 có được sự phục hồi kinh tế mạnh từ đại dịch nhưng gắn với xu hướng lạm phát bắt đầu gia tăng nhanh. Giờ đây lạm phát được nhìn nhận là mối đe dọa lớn nhất đến duy trì đà phục hồi. Giá cả tăng không chỉ với năng lượng hay các mặt hàng tại các cửa hàng tạp hóa mà đã lan rộng ra các lĩnh vực khác từ nhà ở, ô tô, vé máy bay và một loạt các hàng hóa, dịch vụ khác. Các quan chức Fed đã đối phó với áp lực này bằng hai lần tăng lãi suất cho đến nay và cam kết sẽ tiếp tục tăng lãi suất cho đến khi lạm phát giảm xuống mức mục tiêu 2% đặt ra.

Mặc dù dữ liệu hôm thứ Tư cho thấy đỉnh lạm phát có thể đã ở phía sau, giống như Fed, Nhà Trắng và người dân Mỹ kỳ vọng, nhưng cũng cho thấy Fed vẫn còn một “núi” công việc lớn phía trước mà trước mắt là đối phó với rất nhiều yếu tố sẽ khiến giá cả tăng trong mùa hè này. Nói cách khác, dữ liệu lạm phát tháng 4 dù đã giảm nhẹ nhưng không có khả năng cung cấp cho Fed lý do để điều chỉnh hướng thắt chặt mạnh hơn của chính sách tiền tệ hiện tại, bao gồm các đợt tăng lãi suất lớn hơn bình thường và đẩy nhanh tốc độ thu hẹp bảng cân đối kế toán khổng lồ hiện nay.

Kéo giá cả xuống là ưu tiên hàng đầu

Cuộc xung đột ở Ukraine đã gây áp lực lên giá năng lượng và lương thực. Trong khi đó, các đợt đóng cửa liên quan đến Covid ở Trung Quốc lại có nguy cơ làm trầm trọng thêm các vấn đề chuỗi cung ứng mà thế giới đang phải vật lộn trong năm qua. Điều đó có nghĩa là không chắc tốc độ lạm phát có thể chậm lại bao nhiêu cho đến khi những vấn đề như vậy được giải quyết.

Các chuyên gia Sarah House và Michael Pugliese House cho biết: "Giá xăng dầu giảm đã giúp giảm bớt lạm phát trong tháng vừa qua. Nhưng thời gian “nghỉ ngơi” của tháng 4 sẽ rất ngắn ngủi, khi giá xăng dầu bán ra tới người tiêu dùng đã lại vọt lên mức cao kỷ lục trong tuần này".

Robert Frick, chuyên gia kinh tế doanh nghiệp tại Navy Federal Credit Union, nhận định: "Đỉnh điểm của lạm phát có thể đã ở phía sau chúng ta, nhưng báo cáo CPI tháng 4 cho thấy tốc độ chậm lại sẽ kéo dài, thậm chí có thể vẫn duy trì ở ngưỡng cao quanh 8% cho đến khi bắt đầu giảm giá đáng kể". Cùng quan điểm này, Seema Shah, chiến lược gia trưởng tại Chief Global Investors cho rằng báo cáo CPI tháng 4 cho thấy “sự giảm tốc đà tăng của lạm phát sẽ diễn ra rất chậm”.

Tổng thống Mỹ Joe Biden đã nói lạm phát là "cao không thể chấp nhận được" vào hôm thứ Tư và tái nhấn mạnh "hạ thấp lạm phát là ưu tiên kinh tế hàng đầu", theo một tuyên bố được công bố sau báo cáo CPI tháng 4. Trong diễn biến tăng CPI tháng 4, có thể thấy những vấn đề đặc biệt nghiêm trọng đối với nhóm nhà ở, thực phẩm, vé máy bay và mua ô tô mới. Trong đó, chi phí đi lại bằng đường hàng không đã tăng tới 33,3% so với cùng kỳ năm ngoái - mức tăng lớn nhất kể từ tháng 12/1980. Giá thực phẩm tăng 0,9% trong tháng trước và tăng 9,4% so với cùng kỳ năm ngoái, là mức tăng lớn nhất kể từ tháng 4/1981. Giá hàng tạp hóa đã tăng 10,8%, mức tăng lớn nhất kể từ tháng 11/1980. Trong khi đó, doanh số bán ô tô cũng góp phần lớn vào lạm phát tăng do các vấn đề về chuỗi cung ứng. Trong đó, mặc dù giá xe cũ giảm 0,4% trong tháng nhưng giá xe mới lại tăng 1,1%.

Chi phí nhà ở - chiếm khoảng 1/3 trọng số CPI - đã tăng 0,5% trong tháng 4, đánh dấu tháng tăng thứ ba liên tiếp. So với cùng kỳ năm ngoái, chi phí nhà ở đã tăng 5,1%, là mức tăng nhanh nhất kể từ tháng 4/1991. Riêng giá năng lượng đã giảm trong tháng 4 do giá xăng dầu giảm so với mức đỉnh của tháng 3. Tuy nhiên tính theo cơ sở 12 tháng, giá năng lượng vẫn tăng 30,3% đến hết tháng 4. Chưa kể ngay trong tuần đầu tiên của tháng 5 này, giá gas lại tiếp tục tăng vọt, do đó cấu phần này trong CPI có thể sẽ xấu hơn trong dữ liệu của tháng 5 này.

Thậm chí một số nhận định còn cho rằng, lạm phát có thể vẫn chưa đạt đến đỉnh điểm. Đơn cử với chi phí nhà ở, Bộ Lao động chỉ thu thập dữ liệu tiền thuê nhà từ từng căn hộ hoặc ngôi nhà trên cơ sở lấy mẫu 6 tháng một lần, nên chưa chắc đã phản ánh được kịp thời diễn biến giá tăng. Như vậy, ngay cả khi giả định giá cả không tăng thêm ở các cấu phần khác trong CPI thì chỉ riêng chi phí nhà ở tăng cũng có thể đẩy CPI lên các đỉnh mới.

Hồng Quân

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,00
3,00
3,30
4,00
4,00
5,50
5,30
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,40
3,50
3,70
5,20
5,40
5,70
6,00
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,10
3,20
3,40
4,50
4,60
5,10
5,80
Sacombank
0,03
-
-
-
3,30
3,50
3,70
4,70
4,70
5,80
6,20
Techcombank
0,03
-
-
-
2,75
2,75
3,25
4,55
4,55
5,45
5,55
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,50
5,50
DongA Bank
0,20
0,20
0,20
0,20
3,70
3,70
3,70
5,60
5,70
6,20
6,50
Agribank
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,50
5,50
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.180 23.490 26.488 27.866 31.023 32.318 204.16 214.87
BIDV 23.190 23.470 26.575 27.683 31.139 32.402 203.99 213.29
VietinBank 23.195 23.495 26.607 27.727 31.399 32.409 204.47 213.47
Agribank 23.180 23.470 26.787 27.493 31.334 32.117 205.87 211.70
Eximbank 23.230 23.450 26.871 27.398 31.480 32.096 206.75 210.81
ACB 23.230 23.460 26.814 27.429 31.401 31.993 206.11 211.05
Sacombank 23.220 23.567 26.953 27.513 31.568 32.084 206.29 212.66
Techcombank 23.209 23.500 26.643 27.863 31.118 32.281 205.24 214.28
LienVietPostBank 23.150 23.440 26.875 27.928 31.504 31.988 207.19 213.97
DongA Bank 23.250 23.500 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
68.100
68.720
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
68.100
68.700
Vàng SJC 5c
68.100
68.720
Vàng nhẫn 9999
53.100
54.050
Vàng nữ trang 9999
52.950
53.650